Khơi dậy sức mạnh văn hóa để củng cố trận địa tư tưởng
Đại hội XIV của Đảng khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời nhấn mạnh vai trò của văn hóa và con người như nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho quá trình phát triển đất nước. Việc phát huy sức mạnh văn hoá không chỉ tạo động lực phát triển bền vững mà còn góp phần củng cố vững chắc trận địa tư tưởng.
Trong tiến trình phát triển của đất nước, văn hóa luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là một lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt. Với Đề cương về Văn hóa Việt Nam năm 1943, Đảng đã đặt nền móng cho tư duy lý luận về văn hóa khi khẳng định đây là một trong ba mặt trận quan trọng bên cạnh chính trị và kinh tế. Sau khi đất nước thống nhất, đặc biệt từ công cuộc đổi mới năm 1986, nhận thức của Đảng về văn hóa từng bước được mở rộng và phát triển phù hợp với yêu cầu xây dựng đất nước trong điều kiện mới.
Bước chuyển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng được thể hiện tại Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998), khi lần đầu tiên văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Qua các kỳ Đại hội, tư duy của Đảng về văn hóa được bổ sung và phát triển theo hướng toàn diện hơn. Văn hóa ngày càng được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với con người, với phát triển bền vững, với sức mạnh mềm quốc gia và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Đến Đại hội XIV, nhận thức ấy được nâng lên một bước mới khi văn hóa không chỉ được xem là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn được xác định là “nguồn lực nội sinh” và “động lực mạnh mẽ” cho sự phát triển đất nước trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc gia ngày càng sâu sắc.

Nguồn lực nội sinh và động lực phát triển
Văn kiện Đại hội XIV đã thẳng thắn nhìn nhận: “Văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển”. Nhận định này, một mặt phản ánh thực trạng phát triển văn hóa trong thời gian qua khi vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội và trong chiến lược phát triển đất nước chưa được phát huy tương xứng; mặt khác cho thấy sự điều chỉnh trong tư duy phát triển của Đảng trong điều kiện mới.
Nhiều năm qua, mặc dù văn hóa luôn được nhấn mạnh là “nền tảng tinh thần của xã hội”, song trên thực tế, văn hóa nhiều khi vẫn bị xem là lĩnh vực đi sau, chưa được đầu tư tương xứng và chưa thực sự phát huy vai trò như một động lực phát triển. Không ít nơi, phát triển kinh tế vẫn được ưu tiên hơn phát triển văn hóa; các giá trị vật chất được đề cao trong khi các giá trị tinh thần, đạo đức và cộng đồng có dấu hiệu suy giảm.
Những biểu hiện như khủng hoảng niềm tin xã hội, xuống cấp đạo đức, lối sống thực dụng, sự đứt gãy các liên kết cộng đồng hay tình trạng thương mại hóa đời sống văn hóa cho thấy phát triển kinh tế nếu tách rời nền tảng văn hóa sẽ khó bảo đảm tính bền vững.
Nhận định của Đại hội XIV không đơn thuần là sự tổng kết thực tiễn, mà còn phản ánh bước điều chỉnh trong tư duy phát triển của Đảng.
Trong điều kiện toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cạnh tranh quốc gia ngày càng sâu sắc, các nguồn lực truyền thống như tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ hay lợi thế địa lý đang dần mất đi vai trò quyết định. Thay vào đó, những yếu tố thuộc về văn hóa và con người ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng tạo nên sức cạnh tranh và khả năng phát triển lâu dài của quốc gia.
Nói cách khác, sức mạnh của một quốc gia trong thời đại mới không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay tiềm lực vật chất, mà còn được quyết định bởi chất lượng văn hóa và chất lượng con người.
Trong tư duy của Đại hội XIV, phát triển văn hóa không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân hay bảo tồn bản sắc dân tộc, mà còn nhằm xây dựng nền tảng giá trị, củng cố niềm tin xã hội, phát triển con người và tạo dựng năng lực phát triển bền vững cho quốc gia. Với quan điểm chỉ đạo đó, Đại hội XIV nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ mới là: “Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hoá thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước”.
Có thể thấy, văn hóa không còn được nhìn nhận đơn thuần như lĩnh vực bảo tồn hay hưởng thụ tinh thần, mà đã trở thành yếu tố trực tiếp tham gia vào quá trình kiến tạo năng lực cạnh tranh quốc gia, củng cố sự đồng thuận xã hội và bảo đảm tính bền vững của phát triển trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi sâu rộng.
Văn hóa được gắn với xây dựng hệ giá trị
Ở các giai đoạn trước, các văn kiện của Đảng chủ yếu nhấn mạnh những nội dung như giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng đời sống văn hóa, giáo dục đạo đức và lối sống, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội XIV, tư duy về văn hóa đã có bước phát triển mới khi chuyển từ cách tiếp cận thiên về bảo tồn và quản lý văn hóa sang cách tiếp cận chú trọng kiến tạo nền tảng giá trị cho xã hội hiện đại.
Đại hội XIV nhấn mạnh việc “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam”. Việc nhấn mạnh đến hệ giá trị văn hóa phản ánh mối quan tâm ngày càng lớn của Đảng trước những biến đổi sâu sắc của xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và chuyển đổi số.
Trong môi trường xã hội biến đổi nhanh chóng, nhiều chuẩn mực đạo đức và lối sống truyền thống đứng trước nguy cơ bị phá vỡ hoặc thay đổi sâu sắc. Những hiện tượng như bạo lực học đường, lệch chuẩn trong ứng xử xã hội, sự xuống cấp đạo đức ở một bộ phận xã hội hay lối sống chạy theo vật chất cho thấy vấn đề văn hóa hiện nay không chỉ còn là bảo tồn di sản hay phát triển hoạt động văn hóa đơn thuần, mà đã trở thành vấn đề định hướng giá trị và tổ chức đời sống xã hội.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng “hệ giá trị quốc gia” được nhấn mạnh cho thấy yêu cầu xác lập những giá trị cốt lõi tạo nên bản sắc, mục tiêu và định hướng phát triển của dân tộc trong thời kỳ mới. Xây dựng “hệ giá trị văn hóa” nhằm hình thành các chuẩn mực văn hóa chung cho xã hội; “hệ giá trị gia đình” khẳng định vai trò của gia đình như môi trường nền tảng hình thành nhân cách con người; còn “chuẩn mực con người Việt Nam” hướng tới xây dựng mẫu hình con người đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Từ tư duy quản lý văn hóa, chủ yếu tập trung vào quản lý các hoạt động văn hóa, bảo tồn truyền thống và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, Đại hội XIV cho thấy sự chuyển dịch sang tư duy kiến tạo trật tự giá trị xã hội. Văn hóa được nhìn nhận như công cụ định hướng phát triển con người, củng cố niềm tin xã hội và duy trì sự ổn định của quốc gia trong bối cảnh biến đổi nhanh chóng của đời sống hiện đại.
Văn hóa với khoa học - công nghệ và chuyển đổi số
Một điểm mới đáng chú ý trong tư duy phát triển của Đại hội XIV là văn hóa không còn được đặt tách biệt với khoa học - công nghệ, mà được nhìn nhận trong mối liên hệ trực tiếp với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Văn kiện Đại hội nhấn mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của phát triển, đồng thời xác định văn hóa và con người là nền tảng và sức mạnh nội sinh của đất nước.
Trong bối cảnh công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, giao tiếp, học tập và tổ chức đời sống xã hội, sự phát triển công nghệ không thể tách rời các vấn đề về đạo đức, lối sống, bản sắc văn hóa và năng lực thích ứng của con người. Việc đặt văn hóa trong quan hệ trực tiếp với khoa học - công nghệ và chuyển đổi số cho thấy Đại hội XIV đang tiếp cận phát triển theo hướng lấy con người làm trung tâm.
Đây cũng là cách tiếp cận khá gần với quan điểm phát triển hiện đại của UNESCO khi nhấn mạnh rằng phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế hay tiến bộ kỹ thuật, mà phải hướng tới nâng cao chất lượng con người, bảo vệ bản sắc văn hóa và tạo dựng sự phát triển bền vững cho xã hội.
Trong tư duy của Đại hội XIV, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số chỉ có thể trở thành động lực phát triển hiệu quả khi được đặt trên nền tảng văn hóa, hệ giá trị xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Sức mạnh văn hóa trong cạnh tranh quốc gia và hội nhập
Đại hội XIV không chỉ nhấn mạnh nhiệm vụ giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, mà còn đề cao yêu cầu “khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”. Như vậy, văn hóa không chỉ là lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần, mà còn là nền tảng tạo nên ý chí phát triển và sức mạnh nội sinh của quốc gia.
Trong điều kiện cạnh tranh toàn cầu ngày càng sâu sắc, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được quyết định bởi tiềm lực kinh tế hay quân sự, mà còn phụ thuộc vào khả năng tạo dựng niềm tin xã hội, bản sắc dân tộc, năng lực sáng tạo và sức hấp dẫn văn hóa. Từ góc độ đó, văn hóa trong Đại hội XIV đã mang ý nghĩa gần với khái niệm “sức mạnh mềm” của quốc gia. Những yếu tố như bản sắc văn hóa, hình ảnh quốc gia, giá trị dân tộc, tinh thần cộng đồng và khát vọng phát triển được xem là nguồn lực tạo nên vị thế và năng lực cạnh tranh của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế.
Đại hội XIV của Đảng đã kế thừa và phát triển các quan điểm về văn hóa qua các thời kỳ, đồng thời cho thấy bước chuyển mới trong tư duy phát triển văn hóa trong bối cảnh mới của đất nước khi mà văn hóa ngày càng được đặt vào vị trí trung tâm hơn trong chiến lược phát triển quốc gia.
Những quan điểm về văn hóa trong Đại hội XIV phản ánh nhận thức ngày càng rõ hơn của Đảng rằng phát triển bền vững không chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế hay tiến bộ công nghệ, mà còn phụ thuộc vào sức mạnh văn hóa, chất lượng con người và sự ổn định của nền tảng giá trị xã hội.
Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ (2026), “Toàn văn Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206221643667.htm
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 43, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Hoàng Hoàng, Vương Hà, Minh Nhã và Thu Hà (thực hiện) (2021), “Để văn hóa xứng đáng “soi đường cho quốc dân đi””, Bài 2: “Phát triển kinh tế không thể tách rời văn hóa”, https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/bai-2-phat-trien-kinh-te-khong-the-tach-roi-van-hoa-677529
4. Thảo Linh (2026), “Nguồn lực văn hóa - nền tảng đảm bảo an ninh tinh thần trong kỷ nguyên mới”, https://nguonmachviet.vn/nguon-luc-van-hoa-nen-tang-dam-bao-an-ninh-tinh-than-trong-ky-nguyen-moi-22363.html
5. Nguyễn Hồng Sơn (2014), “Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII - sự phát triển toàn diện và sáng tạo đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam”, https://lyluanchinhtri.vn/nghi-quyet-trung-uong-5-khoa-viii-su-phat-trien-toan-dien-va-sang-tao-duong-loi-xay-dung-va-phat-trien-nen-van-hoa-viet-nam-805.html


