DI TÍCH LỊCH SỬ-VĂN HÓA VÙNG BIÊN GIỚI
Hệ thống di tích lịch sử – văn hóa vùng biên giới là nơi lưu giữ ký ức, bản sắc và biểu tượng chủ quyền, là nguồn lực tích hợp cho phát triển kinh tế và xây dựng xã hội. Qua chuỗi tác động từ ký ức lịch sử đến "thế trận lòng dân", di sản tạo nội lực - sức đề kháng văn hóa từ bên trong, giữ vững an ninh chính trị.
1. Mở đầu
Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa (DTLS-VH) vùng biên giới không đơn thuần là những công trình kiến trúc hay di sản cần bảo tồn. Hơn thế, đó là những "cột mốc tâm hồn" lưu giữ ký ức cộng đồng, niềm tin chính trị và ý thức chủ quyền quốc gia.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và giao lưu xuyên biên giới ngày càng sâu rộng, nơi "đầu sóng ngọn gió" ấy, DTLS-VH là một trong những "lá chắn" vững chắc góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố "thế trận lòng dân".

https://www.tuyenquang.gov.vn/vi/post/cot-co-quoc-gia-lung-cu-bieu-tuong-thieng-lieng-tren-manh-dat-tuyen-quang-moi?type=NEWS&id=153402
2. Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trong không gian biên giới
Khu vực biên giới đất liền của Việt Nam là không gian hội tụ đa tộc người, đồng thời tập trung hệ thống DTLS-VH phong phú gắn với lịch sử cư trú, cùng hệ thống cột mốc mang ý nghĩa biểu tượng về chủ quyền lãnh thổ.
DTLS-VH vùng biên giới được hình thành trong mối liên hệ mật thiết với lịch sử cư trú của nhiều cộng đồng tộc người, những hoạt động giao lưu xuyên biên giới cũng như quá trình xác lập và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Vì vậy, hệ thống di tích vừa phản ánh lịch sử của một tộc người hay địa phương cụ thể, vừa chứa đựng những lớp ký ức về mối quan hệ giữa cư dân với không gian biên giới và quốc gia - dân tộc.
Từ nuôi dưỡng ký ức lịch sử, bản sắc và giá trị văn hóa thành niềm tin xã hội, ý thức chủ quyền, các di sản này trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng trong việc củng cố nền tảng tinh thần của cộng đồng.
Dọc chiều dài biên giới đất liền Việt Nam, từ Cột cờ Lũng Cú, điểm Cực Bắc, chùa Lũng Cú (tuyến Việt Nam – Trung Quốc) đến địa đạo A Bó[5], tuyến đường 73-74, sân bay A So, nhà Gươl (tuyến Việt Nam – Lào), Thánh đường Masjid Al Khairiyah, Thánh thất Cao Đài Nhơn Hội (tuyến Việt Nam – Campuchia) biểu trưng cho ba không gian lịch sử – sinh thái đặc thù, nơi DTLS-VH gắn chặt với lịch sử cư trú, ký ức cộng đồng và bản sắc văn hóa địa phương.
3. Di tích lịch sử - văn hóa trong bảo đảm an ninh chính trị và phát triển bền vững vùng biên giới
3.1. Thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định xã hội
Bên cạnh chức năng lưu giữ giá trị văn hóa và ký ức cộng đồng, DTLS-VH còn là nguồn lực đặc thù có khả năng chuyển hóa thành lợi ích kinh tế và sinh kế. Khi được tích hợp vào du lịch, giáo dục trải nghiệm và các hoạt động dịch vụ, góp phần tạo sinh kế tại chỗ và đa dạng hóa cơ cấu sinh kế ở vùng biên giới.
Tại Lũng Cú, hệ thống DTLS-VH, đặc biệt tại cột cờ Lũng Cú, điểm cực Bắc, Chùa và kiến trúc nhà Lô Lô truyền thống mang lại tiềm năng du lịch - dịch vụ, trong đó 50% hộ trực tiếp tham gia kinh doanh; du lịch tạo việc làm thường xuyên cho 40% lao động của thôn (PVS, nam, 51 tuổi, trưởng bản Lô Lô Chải, năm 2025); góp phần đưa tỷ lệ hộ nghèo xuống 10%.
Giá trị kinh tế của DTLS-VH ở vùng biên giới không giới hạn ở khả năng tạo thu nhập và mở rộng hoạt động dịch vụ, còn ở vai trò đa dạng hóa sinh kế cho người dân địa phương.
3.2. Gắn kết cộng đồng, giữ gìn bản sắc và thế trận lòng dân
Cư dân vùng biên giới vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể trung tâm trong bảo tồn và phát huy DTLS-VH. Qua khảo sát, 63,2% người được hỏi cho biết trong gia đình có người tham gia duy trì từng không gian văn hóa gắn với di tích; trong đó Lũng Cú là 68,4%, A Lưới 4 là 61,7% và Nhơn Hội 59,5%.
Gần đây cơ chế phối hợp trong bảo tồn và khai thác được phát huy, một số mô hình hợp tác mới như bản Lô Lô Chải (Lũng Cú), nơi cư dân địa phương tham gia quản lý DTLS-VH thông qua cơ chế phối hợp giữa trưởng bản và các nhóm tự quản. Người dân được trao quyền và chia sẻ lợi ích, họ trở thành lực lượng bảo vệ di sản hiệu quả và bền vững.
3.3. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững an ninh chính trị
DTLS-VH tạo dựng nền tảng tư tưởng của Đảng từ chiều sâu văn hóa, thông qua một cơ chế văn hóa - xã hội đặc thù, trong đó các giá trị lịch sử được chuyển hóa thành nhận thức, niềm tin và chuẩn mực ứng xử của cộng đồng. Cơ chế này bắt đầu từ việc lưu giữ và tái tạo ký ức lịch sử.
Thông qua các hoạt động tưởng niệm, lễ hội, giáo dục truyền thống, sinh hoạt tín ngưỡng và bảo tồn di sản, ký ức về dựng nước, giữ nước, đấu tranh cách mạng và bảo vệ chủ quyền quốc gia được tái hiện thường xuyên, từng bước hình thành ý thức quốc gia - dân tộc và truyền thống cách mạng. Trên nền tảng ký ức lịch sử, DTLS-VH tiếp tục kiến tạo các biểu tượng chủ quyền và bản sắc văn hóa ở khu vực biên giới.
Các địa điểm như Cột cờ Lũng Cú, bản Lô Lô Chải, điểm Cực Bắc, địa đạo A Bó hay tuyến đường 73-74 vừa là di tích lịch sử, vừa là không gian biểu tượng, nơi các giá trị về chủ quyền, lòng yêu nước và trách nhiệm được bồi đắp thông qua trải nghiệm văn hóa.
Từ các biểu tượng chung đó, DTLS-VH tiếp tục củng cố bản sắc văn hóa và niềm tin xã hội. Tại Lũng Cú, 78,4% người được hỏi nhận thức DTLS-VH là biểu tượng chủ quyền quốc gia; tại A Lưới 4, 67,8% đánh giá cao giá trị giáo dục của hệ thống di tích chiến tranh; trong khi tại Nhơn Hội, 58,2% ghi nhận vai trò của các thiết chế tôn giáo và văn hóa cộng đồng trong duy trì ổn định xã hội.
Từ sức mạnh văn hóa, giá trị của DTLS-VH tạo dựng sức đề kháng trước các quan điểm sai trái, thù địch. Khi ký ức lịch sử, bản sắc văn hóa và niềm tin xã hội được chuyển hóa thành sức mạnh nội sinh của cộng đồng, các giá trị lịch sử thông qua thực hành văn hóa từng bước hình thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội.

https://thanhnien.vn/nha-di-tich-doi-a-bia-o-do-cao-937-met-co-gi-ma-thu-hut-185250506220208161.htm
Trên nền tảng ấy, mỗi cá nhân có khả năng nhận diện, kiểm chứng và sàng lọc thông tin theo những giá trị lịch sử, văn hóa và lợi ích quốc gia đã được cộng đồng thừa nhận. Nhờ vậy, cộng đồng hình thành miễn dịch nhận thức - năng lực tự nhận diện, tự sàng lọc và tự điều chỉnh trước các thông tin sai lệch, đồng thời, đảm bảo an ninh tinh thần của người dân.
Trong bối cảnh hiện nay, các hoạt động chống phá chuyển từ đối đầu trực diện sang trực tiếp tác động vào ký ức lịch sử, biểu tượng chủ quyền, bản sắc văn hóa, vấn đề dân tộc và tôn giáo nhằm làm suy giảm niềm tin xã hội. Thông qua giáo dục truyền thống, bảo tồn di sản, lễ hội, sinh hoạt tín ngưỡng và các thực hành văn hóa, những giá trị về lịch sử dân tộc, chủ quyền quốc gia và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tái tạo liên tục, trở thành chuẩn mực nhận thức và ứng xử của cộng đồng. Để cơ chế đó phát huy hiệu quả trong thực tiễn, vai trò của cộng đồng và hệ thống các thiết chế ở cơ sở có ý nghĩa quyết định.
Phát huy vai trò của cộng đồng và các thiết chế cơ sở, trong đó, cộng đồng cư dân giữ vai trò trung tâm vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể gìn giữ và truyền tiếp các giá trị của DTLS-VH.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, phát huy DTLS-VH không chỉ là số hóa di tích mà còn chuyển hóa các giá trị của di sản thành tri thức và ký ức số của cộng đồng. Trên cơ sở đó, DTLS-VH lan tỏa các giá trị lịch sử, bồi đắp nhận thức, niềm tin và trách nhiệm người dân trong không gian số.
4. Kết luận
Giá trị cốt lõi của DTLS-VH tích hợp từ các giá trị lịch sử, văn hóa và chủ quyền, là sức mạnh nội sinh của cộng đồng. Khi được tích hợp hài hòa vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội, quản trị văn hóa và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, DTLS-VH trở thành cầu nối giữa bảo tồn di sản, phát huy bản sắc dân tộc với việc kiến tạo nền tảng xã hội vững chắc cho bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Hồ Chí Minh (2025), Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998, của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
5. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
[1] Hồ Chí Minh (2025), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 4, tr. 487.
[2] Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998 về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. (2013). Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 342.
[5] Địa đạo A Bó nằm ở xã Lâm Đớt, huyện A Lưới, Thừa Thiên – Huế.


