Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ TẦM VÓC THỜI ĐẠI CỦA SỰ KIỆN
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, có những sự kiện mà tầm vóc và tầm ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài giới hạn của một mốc thời gian, trở thành bước ngoặt quyết định vận mệnh của cả một quốc gia. Sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 5 tháng 6 năm 1911 chính là một cột mốc mang ý nghĩa vạch thời đại như thế.
NGƯỜI THANH NIÊN YÊU NƯỚC NGUYỄN TẤT THÀNH
RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC NĂM 1911
Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo đã đặt lịch sử dân tộc trước một bài toán nan giải: tìm kiếm một hệ tư tưởng mới và một phương pháp luận cách mạng khoa học đủ năng lực giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ. Quyết định sang phương Tây của Nguyễn Tất Thành đã chấm dứt thời kỳ bế tắc này, mở ra con đường cách mạng vô sản – con đường duy nhất đúng đắn để giành lại độc lập, tự do cho đất nước.
1. Những bước ngoặt quan trọng trước khi rời Tổ quốc (1905-1911)
Hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành ghi dấu bước ngoặt đầu tiên vào tháng 9/1905 khi Người bắt đầu theo học lớp Dự bị tại Trường Tiểu học Pháp - bản xứ ở Vinh[1]. Việc tiếp xúc với khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng, Bác ái” nơi đây đã khơi dậy trong lòng người thanh niên trẻ tuổi niềm khao khát tìm hiểu bản chất thực sự ẩn đằng sau nền văn minh Pháp[2].
Ngày 12/4/1908, Nguyễn Tất Thành tham gia cuộc biểu tình chống thuế ở Thừa Thiên Huế, chứng kiến các nhà yêu nước như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, … bị thực dân đàn áp, bắt bớ, lưu đày hoặc xử tử càng củng cố nhận thức của Nguyễn Tất Thành về sự bế tắc của các con đường cứu nước đương thời, thôi thúc Người tìm kiếm một con đường mới cho dân tộc.
Từ tháng 6/1909 đến đầu năm 1910, khi cụ Nguyễn Sinh Sắc được bổ nhiệm làm Tri huyện Bình Khê (Bình Định), Nguyễn Tất Thành được cha gửi vào Quy Nhơn học thêm tiếng Pháp với thầy giáo Phạm Ngọc Thọ[3] theo chương trình lớp Cao đẳng (Cours supérieur). Năm 1910, Nguyễn Tất Thành vào Phan Thiết, xin làm trợ giáo (moniteur) môn thể dục tại Trường Dục Thanh[4]. Tại đây, Nguyễn Tất Thành được gặp gỡ nhiều chí sĩ yêu nước, cấp tiến đã sáng lập và điều hành Công ty Liên Thành. Mặt khác, Nguyễn Tất Thành cũng rất quan tâm thu thập thông tin về các chuyến tàu biển đi ra nước ngoài[5].
Với sự hỗ trợ tận tình của các thành viên Công ty Liên Thành, tháng 2/1911 Nguyễn Tất Thành rời Bình Thuận vào Sài Gòn. Tại đây, lúc đầu Nguyễn Tất Thành học Trường Thợ máy (École des mécaniciens), vài tháng sau mới xin làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Tréville – một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của hãng Năm Sao, đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn sang cảng Marseille (Pháp)[6]. Sau gần bốn tháng ở Sài Gòn (từ tháng 2 đến đầu tháng 6/1911), Nguyễn Tất Thành đi đến quyết định dứt khoát: sang Pháp và các nước phương Tây xem họ làm thế nào, rồi trở về giúp đồng bào của mình. Ngày 5/6/1911, trên con tàu Amiral Latouche Tréville, từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.
Ảnh con tàu Đô đốc Amiral Latouche Tréville
2. Hành trình lựa chọn con đường cứu nước (1911-1920)
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã tạo nên bước ngoặt trong quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành. Sau nhiều năm khảo nghiệm thực tiễn tại các nước tư bản phương Tây, từ năm 1918, Người bắt đầu tham gia hoạt động chính trị, từng bước tiếp cận phong trào cách mạng quốc tế và tìm kiếm một con đường giải phóng dân tộc phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Năm 1919, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp và thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi đến Hội nghị Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Nam[7], đưa vấn đề quyền dân tộc của Việt Nam ra trước dư luận quốc tế. Tuy nhiên, bước ngoặt quyết định trong nhận thức chính trị của Nguyễn Ái Quốc diễn ra vào tháng 7/1920 khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin. Từ đó, Người khẳng định chỉ có chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường cách mạng vô sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập dân tộc ở các nước thuộc địa. Người khẳng định đây là “cái cần thiết cho chúng ta, là con đường giải phóng chúng ta”; từ đó “hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”[8].
Tại Đại hội Tours (12/1920), khi Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Lý giải cho lựa chọn này, cho biết vì “Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa”, mà với Nguyễn Ái Quốc: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”[9]. Đây là dấu mốc khẳng định sự chuyển biến từ chủ nghĩa yêu nước đến lập trường cách mạng vô sản.
Sự lựa chọn của Nguyễn Ái Quốc là kết quả của quá trình khảo nghiệm thực tiễn và tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong bối cảnh thời đại mới do Cách mạng Tháng Mười mở ra. Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay đã khẳng định giá trị lịch sử và tính đúng đắn của con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Người đã lựa chọn.
3. Ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại của sự kiện Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước
Chấm dứt cuộc khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo
Trong bối cảnh các con đường cứu nước truyền thống và dân chủ tư sản đều bộc lộ giới hạn, quyết định ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành ngày 5/6/1911 đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa lịch sử trong tư duy cách mạng Việt Nam. Lựa chọn hướng sang phương Tây để trực tiếp khảo nghiệm thực tiễn, tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa thực dân và xã hội tư bản, Người đã vượt ra khỏi những khuôn mẫu tư duy đương thời. Với tinh thần độc lập, tự lực và phương pháp tiếp cận từ thực tiễn, Người đã đặt những viên gạch đầu tiên phá vỡ tình trạng khủng hoảng kéo dài, tìm ra một con đường giải phóng dân tộc phù hợp, tạo tiền đề cho sự hình thành đường lối cách mạng mới và mở ra bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Bước đột phá tư duy: Khảo nghiệm thực tiễn và lựa chọn con đường cách mạng vô sản
Hành trình bôn ba qua nhiều quốc gia từ năm 1911 đã giúp Nguyễn Tất Thành từng bước hình thành nhận thức toàn diện về bản chất của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân và các con đường cách mạng trên thế giới. Qua nghiên cứu Cách mạng Mỹ năm 1776 và Cách mạng Pháp năm 1789, Người khẳng định đây đều là các cuộc cách mạng “chưa đến nơi”: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”[10].
Bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin đã giúp Người giải đáp căn bản những trăn trở về con đường cứu nước, tìm thấy cơ sở lý luận và phương hướng cách mạng phù hợp với Việt Nam: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”[11].
Việc Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Việc Nguyễn Ái Quốc tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tours (12/1920) đánh dấu sự chuyển biến từ chủ nghĩa yêu nước đến lập trường cộng sản và mở ra bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Hành trình ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 tạo tiền đề trực tiếp dẫn đến sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản – con đường mà Người khẳng định là đáp ứng yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Đặt nền móng toàn diện về tư tưởng, tổ chức và chính trị cho sự nghiệp giải phóng
Từ thực tiễn khảo nghiệm ở nhiều quốc gia, Nguyễn Ái Quốc từng bước xác lập quan điểm rằng cách mạng muốn thành công phải được chuẩn bị đồng bộ về tư tưởng, tổ chức và đường lối chính trị.
Về tư tưởng, Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào yêu nước Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Thông qua các hoạt động báo chí, tuyên truyền và đặc biệt là tác phẩm Đường Kách mệnh, Người xây dựng nền tảng tư tưởng cho phong trào cách mạng và khẳng định vai trò quyết định của lý luận đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Về tổ chức, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), trực tiếp đào tạo cán bộ, xây dựng lực lượng cách mạng và thúc đẩy phong trào “vô sản hóa”, tạo tiền đề về tổ chức và đội ngũ cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về chính trị, thông qua Đường Kách mệnh và được hoàn thiện trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã xác lập những nguyên tắc cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam: xác định đúng mục tiêu giải phóng dân tộc, lực lượng cách mạng, phương pháp đấu tranh và mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Sự chuẩn bị toàn diện trên cả ba phương diện tư tưởng, tổ chức và chính trị đã tạo nền tảng quyết định cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và mở ra bước ngoặt trong tiến trình cách mạng dân tộc.
Phá vỡ thế cô lập, gắn kết cách mạng Việt Nam vào dòng chảy thời đại
Từ thực tiễn hoạt động ở cả chính quốc và thuộc địa, Người nhận thức chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống thống trị mang tính toàn cầu; vì vậy, cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa chỉ có thể giành thắng lợi khi gắn bó với phong trào cách mạng quốc tế và tranh thủ sự đoàn kết của các lực lượng tiến bộ.
Trên cơ sở phát triển luận điểm về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản thế giới, Người đặt cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng mặt trận đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc, đưa cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới. Nguyễn Ái Quốc đã tham gia sáng lập Hội Liên hiệp Thuộc địa (1921), thúc đẩy sự liên kết giữa các dân tộc bị áp bức và mở rộng quan hệ với các lực lượng cách mạng ở nhiều quốc gia. Sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại do Người khởi xướng đã tạo nền tảng để cách mạng Việt Nam tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của phong trào cộng sản, công nhân và các lực lượng tiến bộ quốc tế, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng như các cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 5/6/1911 là bước ngoặt mang tính lịch sử, làm thay đổi căn bản quỹ đạo phát triển của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Giá trị lớn nhất của sự kiện này là ở phương pháp tư duy khoa học, tinh thần độc lập và năng lực khảo nghiệm thực tiễn của Nguyễn Tất Thành. Chính từ quá trình ra đi tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc phù hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài nhiều thập niên.
Từ điểm khởi nguồn năm 1911, sự chuẩn bị toàn diện về tư tưởng, chính trị và tổ chức từng bước được hình thành, tạo tiền đề trực tiếp cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và những thắng lợi có ý nghĩa quyết định của cách mạng Việt Nam sau này. Đồng thời, việc Nguyễn Ái Quốc đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ hữu cơ với phong trào cách mạng thế giới đã kiến tạo nên phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại – một tư duy chiến lược có giá trị vượt ra ngoài phạm vi của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiếp tục định hướng cho tiến trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời đại mới. Vì vậy, nhìn từ chiều sâu lịch sử và tầm nhìn phát triển dân tộc, sự kiện ngày 5/6/1911 mang ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại lớn lao, thực sự là điểm khởi đầu của một thời đại mới trong lịch sử Việt Nam hiện đại, nơi khát vọng độc lập dân tộc được nâng lên thành một hệ tư tưởng, một đường lối cách mạng và một chiến lược phát triển có ý nghĩa bền vững đối với vận mệnh quốc gia.
[1] Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng – Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 1 (1890-1929), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 15-16.
[2] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 1 (1912-1924), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 461.
[3] Ông Phạm Ngọc Thọ là giáo viên Trường Tiểu học Pháp - Việt Quy Nhơn, cha của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch – Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Cách mạng tháng Tám 1945.
[4] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 1 (1890-1929), sđd., tr. 22-24.
[5] Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng - Vàng trong lửa, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2009, tr. 76.
[6] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 1 (1890-1929), sđd., tr. 26-27.
[7] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 1 (1890-1929), sđd., tr. 46-47.
[8] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 1 (1890-1929), sđd., tr. 79.
[9] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 1 (1890-1929), sđd., tr. 91.
[10] Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 296.
[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập - Tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.562.
2


