Vận dụng "Luận cương về Phoi - ơ - bắc" để nhận diện sai lệch trong báo cáo của USCIRF về tôn giáo tại Việt Nam
Lê Anh•13/10/2026 09:33
Báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) liên tục đưa ra những nhận định phiến diện, quy chụp "tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có khynh hướng tiêu cực". Để đấu tranh phản bác các luận điệu áp đặt này, bài viết vận dụng thế giới quan duy vật thực tiễn từ tác phẩm kinh điển "Luận cương về Phoi-ơ-bắc", qua đó cung cấp một lăng kính lý luận sắc bén nhằm giải phẫu và nhận diện triệt để những sai lầm mang tính phương pháp luận của USCIRF
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH MUÔN
1. Mở đầu
Trong bối cảnh các báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) liên tục đưa ra những nhận định phiến diện, áp đặt và thiếu khách quan về tình hình tôn giáo tại Việt Nam như quy chụp rằng “tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có khynh hướng tiêu cực”. Trong các báo cáo của mình, họ không ngần ngại sử dụng lăng kính duy tâm chủ quan để xuyên tạc công tác bảo đảm an ninh trật tự thành hành vi “đàn áp trên diện rộng các lãnh tụ tôn giáo, các nhà bảo vệ nhân quyền” hay những người “chỉ đơn thuần hành đạo”. Thậm chí, họ còn ngụy tạo các số liệu về cái gọi là "tù nhân lương tâm" để bóp méo bức tranh nhân quyền. Đáng chú ý, USCIRF liên tục lặp lại luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ các tổ chức tôn giáo hợp pháp, điển hình là việc vu cáo Giáo hội Phật giáo Việt Nam là “tổ chức do Nhà nước dựng lên” nhằm biến tôn giáo thành “công cụ khống chế” và “đàn áp các tu sĩ”. Trên thực tế, toàn bộ những lập luận và thông tin nêu trên đã và đang bị chính đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, tự do và đa dạng tại Việt Nam bác bỏ. Việc USCIRF đánh tráo khái niệm giữa hành vi vi phạm pháp luật với quyền tự do tôn giáo thực chất là một sự ngụy biện về mặt phương pháp luận. Do đó, cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu này không thể chỉ dừng lại ở việc đối chiếu số liệu, mà đòi hỏi phải giải phẫu tận gốc rễ nhận thức luận của chúng. Chính vì vậy, việc xác lập một hệ quy chiếu lý luận là vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng từ tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin để nhận diện, bóc trần và phê phán bản chất siêu hình, xa rời thực tiễn trong các báo cáo của USCIRF. Ở phương diện này, tác phẩm “Luận cương về Phoi-ơ-bắc” của C. Mác đóng vai trò là phương pháp luận, cung cấp những nguyên lý triết học về phạm trù thực tiễn, bản chất con người và nguồn gốc kinh tế - xã hội của các hình thái ý thức tôn giáo. Việc vận dụng tư tưởng kinh điển của C. Mác không chỉ giúp củng cố thế giới quan khoa học, mà còn tạo tiền đề vững chắc để vạch trần bản chất siêu hình, tư duy giáo điều và sự xa rời thực tiễn sinh động trong các luận điệu của USCIRF. Trên cơ sở hệ thống hóa các luận điểm phương pháp luận cốt lõi của “Luận cương về Phoi-ơ-bắc”, nghiên cứu hướng tới việc giải phẫu và chỉ rõ bốn nhóm sai lệch căn bản trong cách tiếp cận, đánh giá của USCIRF đối với thực trạng đời sống tôn giáo ở Việt Nam, qua đó góp phần khẳng định tính khách quan và đúng đắn trong đường lối, chính sách tôn giáo của Nhà nước.
“
Ludwig Andreas Feuerbach
1804 - 1872
2. Bối cảnh ra đời của tác phẩm
2.1. Nguồn gốc tác phẩm
Theo ghi chú của tập 3 trong bộ sách C. Mác và Ph. Ăngghen Toàn tập thì “"Luận cương về Phoi-ơ-bắc" được C.Mác viết tại Bruy-xen vào mùa xuân năm 1845 và nằm trong tập "Bút ký" của Mác những năm 1844-1847”. Như vậy, “Luận cương về Feuerbach” thực chất không phải là tác phẩm độc lập mà là một bản ghi chú các luận điểm của C. Mác về Feuerbach nhằm chuẩn bị cho việc viết tác phẩm đồ sộ hơn sau đó là “Hệ tư tưởng Đức”. Cũng theo chú thích này, đầu đề “Luận cương về Feuerbach” là do Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin của Liên Xô (cũ) đặt dựa trên lời nói đầu của Engels trong tác phẩm “Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”.
Trong một thời gian dài, bản bút ký này không được sử dụng cho việc in một cách công khai. Sau khi Mác qua đời, Trong quá trình viết cuốn Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Engels đã đưa tài liệu này vào phần phụ lục cho tác phẩm của mình. Marx đặt tên cho tiêu đề của ghi chú là “Về Feuerbach” còn Engels đặt tên cho tài liệu này là “Mác bàn về Feuerbach”. Để thuận tiện cho các độc giả, Engels đã biên tập bút ký nhưng vẫn giữ vững tinh thần của Marx. Phiên bản mà chúng ta đang sử dụng phổ biến trong bộ Toàn tập là phiên bản đã được Engels biên tập.
Bản bút tký gốc lần đầu được xuất bản bằng tiếng Đức và tiếng Nga vào năm 1924 bởi Viện nghiên cứu chủ nghĩa Marx – Lenin trực thuộc BCHTW Đảng Cộng sản Liên Xô ở Moscow. Trước đó thì bản tiếng Anh của Luận cương lần đầu xuất hiện trong lần tái bản của cuốn sách về Ludwig Feuerbach do Engels viết dưới tiêu đề “Ludwig Feuerbach. The Root of Socialist Philosophy” (1903).
2.2. Bước phát triển chủ nghĩa duy vật của Feuerbach
Trong tác phẩm “Bàn về Pru-đông” thì Marx đã từng nhận xét về mối quan hệ giữa Hegel và Feuerbach như sau: “ [...] So với Hê-ghen thì Phoi-ơ-bắc thật là nghèo nàn. Thế nhưng, sau Hê-ghen, Phoi-ơ-bắc đã đánh dấu một thời đại, bởi vì ta đã đưa lên hàng đầu những điểm mà ý thức Thiên chúa giáo lấy làm khó chịu, nhưng lại là quan điểm quan trọng cho sự thành công của sự phê phán, những điểm mà Hê-ghen đã để lại trong một clair-obscur thần bí”.
Tác phẩm “Ludwig Feuerbach” của Engels đã làm sáng tỏ vị trí của Feuerbach trong dòng chảy lịch sử triết học và diễn giải trực tiếp cơ sở để sự phê phán của Marx đối với Feuerbach xuất hiện. Vì vậy, cần phải căn cứ vào tác phẩm của Engels để hiểu được bản chất những luận điểm mà Marx nêu ra là gì.
Sự phát triển của chủ nghĩa duy vật ấy được tiến hành trong bối cảnh đặc thù của nước Đức trong giai đoạn đó, và nó liên quan trực tiếp đến cuộc đấu tranh mà Marx và Engels đã tiến hành trong thời kỳ này. Ở nước Đức, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đến chậm hơn so với nhiều nước Châu Âu khác, đại bộ phận nền kinh tế và chính trị của nước Đức nằm trong tay giai cấp tiểu tư sản và chế độ phong kiến được thi hành dưới hình thức thống trị ôn hòa, gián tiếp của giai cấp tư sản. Trong bối cảnh đó, để thúc đẩy cho cuộc cách mạng xã hội nhằm tiến đến chế độ dân chủ tư sản một cách khách quan, chỉ có sự thiết lập nên nền móng của nó về mặt văn hóa, hơn nữa còn phải thông qua hình thức hợp pháp, chỉ có triết học mới có thể đảm đương được nhiệm vụ ấy. Hegel là ví dụ rõ ràng của cơ cấu này. Là một người chịu ảnh hưởng của tư duy philistine, là giáo sư trường đại học, Hegel xây dựng triết học của mình thành 1 hệ thống nhằm hướng đến 1 chân lý tuyệt đối, Hegel xây dựng phạm trù ý niệm tuyệt đối là để giải quyết bài toán này. Nhưng ẩn sau những giới hạn giáo điều ấy, phép biện chứng của Hegel diễn đạt dưới hình thức ngôn từ trừu tượng lại phản ánh khuynh hướng cách mạng tất yếu sẽ nảy sinh.
Từ tính 2 mặt của những nội dung tư tưởng mà Hegel xây dựng, yêu cầu phát triển trực tiếp của xã hội Đức đã hình thành nên hai nhóm tư tưởng khác nhau: nhóm Hegel già tiếp tục bảo vệ cho chế độ phản động của Nhà nước phong kiến, nhóm Hegel trẻ là đại diện cho yêu cầu thâm nhập vào đời sống, phá bỏ hệ thống tinh thần của xã hội khi đó là tôn giáo và nhà nước, đó cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng kế thừa phép biện chứng của Hegel và đại diện cho giai cấp tư sản. Vấn đề cải tổ hệ thống tinh thần của xã hội này được hiện hữu chủ yếu trong lĩnh vực tôn giáo nhằm gián tiếp tấn công vào chính trị, nhưng phái Hegel trẻ đã không thể hiểu được tại sao bản thân cuộc đấu tranh tư tưởng của họ không thể tạo ra được hệ quả trực tiếp đối với hiện thực như họ mong muốn, vì khi phê phán trực tiếp tôn giáo, câu hỏi lý do gì mà tôn giáo hình thành và cùng với đó, chính trị được hình thành như thế nào, đặt vấn đề đấu tranh không còn chỉ là đấu tranh tư tưởng, mà là đấu tranh vào các vấn đề của đời sống hiện thực, câu hỏi căn bản nhất mà phái Hegel trẻ phải trả lời được – và họ đã không trả lời được do góc nhìn Hegel của mình – đó là: tư tưởng tinh thần của xã hội có trước hay bản thân xã hội có trước, cái nào quyết định cái nào và quyết định dưới hình thức như thế nào.
Trực tiếp liên hệ đến vấn đề tôn giáo, tác phẩm “Bản chất của Đạo Cơ đốc” do Feuerbach viết đã đặt vấn đề theo lập trường duy vật chủ nghĩa. “[...] Tự nhiên tồn tại độc lập đối với mọi triết học. Nó là cơ sở trên đó con người chúng ta - bản thân chúng ta cũng là sản phẩm của tự nhiên – đã sinh trưởng. Ngoài tự nhiên và con người ra, không còn có gì nữa cả, và những tạo vật cao siêu do trí tưởng tượng tôn giáo của chúng ta nặn ra, chỉ là những phản ánh hư ảo của chính thực thể của chúng ta thôi”. Quan điểm của Feuerbach đã đặt ra một xuất phát điểm tốt hơn rất nhiều so với Hegel, bởi Feuerbach đã đặt vấn đề xác định nguồn gốc tinh thần của xã hội con người đúng hơn nhiều so với Hegel, bởi nó đã xác định được cơ bản quan điểm duy vật đối với vấn đề cơ sở của các thiết chế tinh thần trên cơ sở coi xã hội con người là cơ sở của các thiết chế đó.
Nhưng không chỉ vậy, Feuerbach còn đi xa hơn. Ông chỉ ra rằng, vấn đề không phải cơ sở của tôn giáo chỉ là xã hội con người theo nghĩa chung chung, mà thực chất, tôn giáo và các thiết chế tinh thần khác nảy sinh từ những mối quan hệ giữa người với người, không phải chỉ với con người cá nhân mà là một tập thể xã hội và những hệ thống các quan hệ mà tập thể đó vận hành. Trên cơ sở này, Feuerbach đã đặt một tiền đề rất sát với lập trường duy vật của Marx.
Nhưng cùng với đó, bằng cách của riêng mình, Feuerbach đã vạch ra được hạn chế của chủ nghĩa duy vật trong thời đại đó, khi ông phản đối những quan điểm siêu hình của chủ nghĩa duy vật trong khoa học tự nhiên ở trong thời đại của ông, nhưng thay vì cải tạo chủ nghĩa duy vật đó từ chính lập trường mà mình đã xây dựng, Feuerbach lại giải quyết vấn đề hiện thực bằng cách dựa vào cơ sở của chủ nghĩa duy tâm.
Như vậy, trong bối cảnh của nước Đức, sự phát triển của chủ nghĩa duy vật là sự phê phán của Marx đối với Feuerbach dưới góc độ lịch sử, nhưng dưới góc độ logic, đó là sự tiếp tục ở nền tảng mà Feuerbach đã đặt ra: mọi hiện tượng tinh thần trong xã hội đều khởi phát từ hoạt động của con người.
3. Các Phương pháp luận trong "luận cương về phoi-ơ-bắc" về tôn giáo
Để hiểu sâu hơn về nôi dung “tôn giáo” trong tác phẩm “luận cương về phoi – ơ – bắc” chúng ta phải quay trở lại với tác phẩm “Lút vích phoi ơ bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”. Qua hai tác phẩm kinh điển này, C. Mác và Ph. Ăngghen đã xác lập một hệ thống phương pháp luận hoàn chỉnh nhằm giải mã bản chất, nguồn gốc và sự vận động của tôn giáo.
Thứ nhất, tôn giáo là một hiện tượng lịch sử - xã hội, phái sinh từ tồn tại xã hội và mang tính vận động không ngừng.
Ph. Ăngghen đã kịch liệt phê phán quan niệm duy tâm của Phoi-ơ-bắc khi cho rằng "tôn giáo là mối quan hệ thương yêu giữa người với người"[1]. Ph.Ănghen chỉ rõ, những phong trào lịch sử lớn mang dấu ấn tôn giáo (như đạo Cơ Đốc hay đạo Hồi) không bắt nguồn từ "trái tim" hay nhu cầu trừu tượng của con người, mà phải được giải thích bằng "toàn bộ lịch sử trước đây của thời Trung cổ" thời kỳ mà thần học thống trị mọi hình thái tư tưởng. Mặc dù tôn giáo là hình thái ý thức xã hội "cách xa đời sống vật chất hơn cả và hình như xa lạ với đời sống vật chất hơn cả"[2], dẫn đến vỏ bọc độc lập giả tạo của nó, nhưng xét đến cùng, nó vẫn luôn bị quy định bởi tồn tại xã hội. Ph.Ăngghen chứng minh bằng thực tiễn lịch sử: “Thật vậy, “những vị thần được tạo ra bằng cách đó ở mỗi dân tộc là những vị thần dân tộc; lĩnh vực chi phối của các vị thần đó không vượt qua biên giới của lãnh thổ dân tộc mà các vị thần ấy phải bảo vệ, và ngoài biên giới đó thì do các vị thần khác tiến hành một sự thống trị không ai tranh giành được. Tất cả các vị thần ấy chỉ có thể tiếp tục tồn tại trong trí tưởng tượng chừng nào dân tộc tạo ra các vị thần ấy còn tồn tại; khi dân tộc đó tiêu vong thì các vị thần ấy cũng tiêu vong theo”[3]. Như vậy, tôn giáo không phải là một thực thể cố định, thiêng liêng siêu việt, mà là sự phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất của mỗi dân tộc và luôn vận động, biến đổi cùng lịch sử dân tộc.
Thứ hai, tôn giáo phản ánh và chịu sự chi phối của các mâu thuẫn giai cấp và lợi ích chính trị ở "cơ sở trần tục"
Trong xã hội có giai cấp, tôn giáo không bao giờ đứng ngoài các quan hệ chính trị. Ph.Ăngghen cho thấy sự dịch chuyển của các hình thái ý thức xã hội trong điều kiện thần học chi phối đã biến tôn giáo thành công cụ đắc lực để bảo vệ quyền lực chính trị. “...do đó, nó buộc mỗi phong trào xã hội và chính trị phải mang hình thức thần học; muốn tạo ra một phong trào như vũ bão, cần phải đưa ra cho quần chúng mà tình cảm được nuôi dưỡng chỉ bằng tôn giáo, những lợi ích thiết thân của họ dưới bộ áo tôn giáo”[4]. Có thể thấy các giai cấp thống trị đã khéo léo khoác "bộ áo tôn giáo" lên những lợi ích thiết thân của quần chúng để tạo ra các phong trào xã hội. Đặc biệt, đạo Cơ Đốc "càng ngày càng trở thành vật sở hữu độc quyền của các giai cấp thống trị, chúng dùng nó làm phương tiện cai trị đơn giản nhằm đàn áp các giai cấp lớp dưới"[5]. Điều này minh chứng cho quy luật: chính trị và tôn giáo, với tư cách là những thành tố của kiến trúc thượng tầng, luôn có xu hướng xâm nhập, thẩm thấu vào nhau. Mọi sự biến đổi của tôn giáo đều nảy sinh từ các quan hệ giai cấp và thường bị các thế lực lợi dụng để tác động, can thiệp vào đời sống chính trị.
Thứ ba, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý để giải mã bản chất tôn giáo và bản chất con người.
Phát triển hệ thống lý luận này đến đỉnh cao trong “Luận cương về Phoi-ơ-bắc”, C. Mác đã tạo ra một bước ngoặt khi đưa thực tiễn vào trung tâm của nhận thức luận. Phê phán chủ nghĩa duy vật cũ chỉ nhìn nhận hiện thực khách quan một cách thụ động, C.Mác khẳng định việc “tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn”[6]. Mọi sự tranh cãi tách rời thực tiễn sinh động đều sa vào kinh viện, sáo rỗng, bởi lẽ "Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy"[7].
Từ thực tiễn, C. Mác bác bỏ quan niệm siêu hình về con người, vạch rõ " Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội"[8]. Từ đó, ông khẳng định "tình cảm tôn giáo" không phải là một hiện tượng tự thân, phi lịch sử, mà là một "sản phẩm xã hội". Tôn giáo nảy sinh từ sự tha hóa trên cơ sở trần tục. Do vậy, để giải quyết triệt để các vấn đề liên quan đến tôn giáo, không thể chỉ phê phán trên bình diện lý luận thuần túy, mà phải thấu hiểu bản thân "cơ sở trần tục" trong chính mâu thuẫn nội tại của nó, và quan trọng nhất là tiến hành cách mạng hóa cơ sở ấy. Nguyên lý này đúc kết trong sứ mệnh vĩ đại: "Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới". Thước đo giá trị của mọi thể chế, chính sách không nằm ở những khái niệm trừu tượng, mà bắt buộc phải được kiểm chứng bằng hiệu quả cải biến thực tiễn đời sống con người.
4. Nhận diện các sai lệch căn bản trong báo cáo của uscirf về tôn giáo tại Việt Nam
Thứ nhất, cách tiếp cận thông qua việc tuyệt đối hóa "tự do tôn giáo" thành một phạm trù trừu tượng và phi lịch sử.
Kế thừa sự phê phán của C. Mác đối với việc xem xét con người và tình cảm tôn giáo như những thực thể trừu tượng, cô lập và tách rời các quan hệ xã hội, có thể thấy USCIRF đã rơi vào đúng vết xe đổ của tư duy siêu hình. Họ nhìn nhận quyền "tự do tôn giáo" như một khái niệm bất biến, lơ lửng trên không trung và đoạn tuyệt hoàn toàn với "tổng hòa các quan hệ xã hội" đặc thù của Việt Nam bao gồm truyền thống văn hóa, bối cảnh lịch sử và yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia. Việc tổ chức này áp đặt các chuẩn mực tư sản phương Tây làm thước đo tuyệt đối mà bỏ qua việc xem xét bối cảnh thực tiễn của một quốc gia đa tôn giáo, nơi các tôn giáo luôn đồng hành cùng vận mệnh dân tộc, thực chất là một sự ngụy biện trắng trợn về mặt phương pháp luận. Cụ thể ngay trong phần đầu tiên báo cáo hàng năm của Việt Nam tổ chức này đã khẳng định “... điều kiện tự do tôn giáo ở Việt Nam vẫn kém, đặc biệt là đối với các nhóm tôn giáo thiểu số, những người phản đối hạn chế tự do tôn giáo và các nhóm dân tộc thiểu số theo Kitoo giáo chủ yếu. Chính phủ Việt Nam nhắm vào những người bảo vệ tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng (FoRB) và các thành viên của các nhóm tôn giáo chưa đăng ký bằng cách đe dọa, giam giữ và bỏ tù họ.”[9]. Đồng thời tổ chức này đã quy kết Chính phủ Việt Nam áp dụng những Điều khác trong Bộ luật Hình sự để đàn áp và bắt giữ những người vi phạm điều tự do tôn giáo như “... Điều 116 (“làm suy yếu đoàn kết dân tộc”), Điều 117 (“tuyên truyền chống nhà nước”) và Điều 331 (“lạm dụng quyền tự do dân chủ”), để truy tố những công dân bị nhắm mục tiêu”.
Có thể thấy USCIRF đã lấy quan niệm và mô hình quan hệ Nhà nước - Giáo hội của Hoa Kỳ (được thể hiện qua Đạo luật IRFA 1998) làm chuẩn mực tuyệt đối để đánh giá các quốc gia khác. Họ phớt lờ thực tế rằng khái niệm "tự do tôn giáo" của Mỹ được hình thành trong điều kiện lịch sử - chính trị đặc thù của phương Tây và bản thân nó cũng không phải là một mô hình hoàn hảo. Việc áp đặt thiên kiến "Mỹ làm trung tâm" này khiến báo cáo của USCIRF mang tính chất của một diễn ngôn quyền lực chính trị hơn là một đánh giá khoa học, khách quan. Gộp chung và đơn giản hóa các mâu thuẫn xã hội phức tạp: Do tuyệt đối hóa phạm trù tự do tôn giáo, USCIRF có xu hướng quy giản mọi tranh chấp trần tục phức tạp như tranh chấp đất đai, di cư trái phép, vi phạm trật tự công cộng, hay các hoạt động bạo loạn ly khai chính trị ở vùng dân tộc thiểu số (Tây Nguyên, Tây Bắc) vào một khung diễn giải duy nhất là "bức hại tôn giáo". Họ cố tình phớt lờ "cơ sở trần tục" của vấn đề (4) để biến các đối tượng vi phạm pháp luật hình sự thành những "nạn nhân vì niềm tin".
Thứ hai, sự ly khai của lý luận khỏi thực tiễn sinh động, dẫn đến những phán xét mang tính kinh viện và phiến diện.
C. Mác khẳng định thực tiễn là tiêu chuẩn tối cao để kiểm nghiệm chân lý; mọi sự tranh cãi hay đánh giá tách rời thực tiễn đều chỉ là trò kinh viện sáo rỗng. Báo cáo của USCIRF bộc lộ rõ sự bế tắc này khi thu thập thông tin chủ yếu từ các cá nhân bất đồng chính kiến, các tổ chức lưu vong hoặc những tin đồn chưa qua kiểm chứng. Cụ thể USCIRF cho rằng “...các cơ quan chức năng giám sát và quấy rối liên tục các tín đồ Cơ đốc người Montagnard và H'Mông, thường xuyên đến thăm nhà, làm gián đoạn các buổi tụ họp tôn giáo, ngược đãi về thể chất và ép buộc từ bỏ đức tin để gây áp lực buộc họ tham gia các nhà thờ được nhà nước công nhận liên kết với Giáo hội Tin Lành Việt Nam hoặc giải tán. Trong suốt năm, các cơ quan chức năng còn quấy rối các Phật tử không tu tập theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam (VBS) được nhà nước chấp thuận, bao gồm công khai chê bai thầy tu khổ hạnh Dhutanga Thích Minh Tuệ và các đệ tử của ông, cũng như ngăn các tăng ni Thiền Am[10] ”[11].
Bằng cách tiếp cận thiếu cơ sở thực tiễn này, họ đã phủ nhận hoàn toàn "đời sống thực tiễn" sinh động đang diễn ra hàng ngày tại Việt Nam. Đó là một hiện thực khách quan nơi hàng chục triệu tín đồ được tự do sinh hoạt tín ngưỡng, hàng vạn cơ sở thờ tự được xây dựng, tôn tạo, và nhiều sự kiện tôn giáo tầm cỡ quốc tế điển hình như Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc (Vesak) được tổ chức thành công rực rỡ, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Từ đó, quay trở lại với những luận điểm được C.Mác trình bày trong Luận cương về phoi – ơ – bắc (2) “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý...". Đặc biệt, Mác nhấn mạnh rằng "Sự tranh cãi về tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư duy tách rời thực tiễn, là một vấn đề kinh viện thuần túy".
Vận dụng nguyên lý này, tính đúng đắn hay sai lệch trong các cáo buộc về "đàn áp tôn giáo" không thể được xác lập thông qua các văn bản tuyên truyền hay suy đoán cảm tính. Nó phải được kiểm chứng bằng chính thực tiễn sinh động của đời sống tôn giáo tại Việt Nam. Khi USCIRF đưa ra các kết luận mà không trải qua quy trình kiểm chứng thực địa nghiêm ngặt, họ đã biến báo cáo của mình thành những phán xét kinh viện, xa rời chân lý khách quan. C.Mác đã viết: "Đời sống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực tiễn. Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy".
Mọi nghi vấn hay bức tranh "mờ ảo, thần bí" do USCIRF dựng lên về sự thống trị hay bức hại tôn giáo tại Việt Nam đều có lời giải đáp rõ ràng khi thâm nhập vào thực tiễn: nơi hàng chục nghìn cơ sở thờ tự hoạt động công khai, hàng chục triệu tín đồ tự do thực hành tín ngưỡng và các sự kiện tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức thành công. Việc phớt lờ thực tiễn này chính là nguyên nhân dẫn đến các phán xét mang tính suy diễn thần bí và bóp méo hiện thực.
Thứ ba, bỏ qua thực tiễn, dẫn đến việc đánh tráo khái niệm giữa hành vi vi phạm pháp luật và cái gọi là "đàn áp tôn giáo".
Thực tiễn lịch sử cho thấy nhiều sự kiện phức tạp (như các vụ việc ở Tây Nguyên hay Tây Bắc) nằm ở giao điểm của nhiều yếu tố như tranh chấp đất đai, di cư trái phép, di sản chính trị FULRO, âm mưu ly khai lập "nhà nước riêng" và vấn đề bảo vệ an ninh biên giới. USCIRF đã xóa bỏ hoàn toàn bối cảnh kinh tế - an ninh này để gộp tất cả dưới tên gọi khiên cưỡng là "đàn áp Tin lành người Thượng" hay "bức hại dân tộc thiểu số".Ngay trong các báo cáo giai đoạn 2006–2007, chính USCIRF cũng từng phải thừa nhận rằng "khó phân biệt những người bị giam giữ vì hoạt động tôn giáo hòa bình với những người bị buộc tội bạo lực hoặc ly khai chính trị". Dù thừa nhận sự nhập nhằng trong nguồn tin của mình, USCIRF vẫn lựa chọn cách tiếp cận định kiến: quy toàn bộ bức tranh tổng thể vào khuôn khổ "vi phạm tự do tôn giáo" nhằm phục vụ mục tiêu áp lực chính trị.
USCIRF đã "thần bí hóa" các vụ án hình sự khi khoác lên chúng chiếc áo "đàn áp đức tin". Tuy nhiên, khi đưa các vụ việc trở về đúng đời sống thực tiễn, bản chất thần bí đó lập tức tan biến: Nhà nước Việt Nam không xử lý niềm tin hay hành vi thực hành lễ nghi tôn giáo chân chính, mà chỉ xử lý các hành vi trần tục vi phạm pháp luật (như bạo loạn, phá hoại khối đại đoàn kết, xâm phạm an ninh quốc gia hay chiếm đoạt tài sản).
Quay trở lại với Luận cương về Phoi – ơ – bắc (8) nhấn mạnh: "Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy".
C. Mác vạch rõ sai lầm của Phoi- ơ - bắc khi mới chỉ thấy sự tự tha hóa tôn giáo mà không nhận ra nguyên nhân cốt lõi: "cơ sở trần tục tự tách khỏi bản thân nó để lên ở trên mây thành một vương quốc độc lập, điều đó chỉ có thể giải thích được bằng sự tự chia cắt và sự tự mâu thuẫn của cơ sở trần tục ấy". Mác đúc kết phương pháp luận triệt để: "trước hết phải hiểu bản thân cơ sở trần tục ấy trong mâu thuẫn của nó và sau đó cách mạng hóa nó trong thực tiễn...".
Vận dụng nguyên lý này, mọi hiện tượng, xung đột hay vụ việc liên quan đến tôn giáo không tự phát sinh trong không trung tư tưởng, mà luôn bắt nguồn từ các mâu thuẫn ở "cơ sở trần tục" bao gồm mâu thuẫn đất đai, lợi ích kinh tế, di cư tự do, tranh chấp sắc tộc, hay ý đồ chính trị ly khai. Việc USCIRF phớt lờ hoàn toàn các mâu thuẫn trần tục này để quy giản tất cả thành một phạm trù duy nhất là "bức hại tôn giáo" chính là sự biểu hiện của tư duy duy tâm, xa rời thực tiễn.
5. Kết luận
Có thể khẳng định, tác phẩm “Luận cương về Phoi-ơ-bắc” của C. Mác, dù đã trải qua bao biến thiên của lịch sử, vẫn giữ vẹn nguyên sức sống thời đại và giá trị phương pháp luận trường tồn, tiếp tục đóng vai trò là kim chỉ nam sắc bén trong việc phân tích, giải mã các hiện tượng xã hội nói chung và ý thức tôn giáo nói riêng. Từ nền tảng thế giới quan duy vật thực tiễn triệt để ấy, nghiên cứu đi đến kết luận rằng: việc đánh giá quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam tuyệt đối không thể lơ lửng trên những thước đo trừu tượng, hay dựa dẫm vào những bản báo cáo mang nặng định kiến, giáo điều và mưu đồ áp đặt chính trị từ bên ngoài như của USCIRF. Trái lại, mọi sự nhìn nhận và đánh giá khách quan bắt buộc phải xuất phát từ chính thực tiễn sinh động của đời sống xã hội, bám rễ sâu sắc vào tiến trình lịch sử, văn hóa của quốc gia và hướng tới bảo vệ lợi ích tối cao của đại đa số nhân dân. Việc đấu tranh, bác bỏ những luận điệu sai lệch, siêu hình không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ bảo vệ chân lý lý luận, mà sâu xa hơn, đó chính là quá trình tiếp tục kiên định "cải tạo thế giới" không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và kiến tạo một xã hội thượng tôn pháp luật, nơi quyền tự do tôn giáo chân chính của mọi công dân luôn được bảo đảm vững chắc bằng chính những thành tựu của thực tiễn đổi mới đất nước.
[1] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 426-427.
[2] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.445
[3] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.445-446.
[4] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.446-447.
[5] C. Mác và Ph. Ăng-ghen: Toàn tập, tập 21, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.448-449.
[6] C.Mác và Ph.Ăngghen (2025). Toàn tập, tập 3. Nxb Chính trị Quốc gia Sự Thật. Hà Nội. Tr9-10
[7] C.Mác và Ph.Ăngghen (2025). Toàn tập, tập 3. Nxb Chính trị Quốc gia Sự Thật. Hà Nội. Tr.12
[8] C.Mác và Ph.Ăngghen (2025). Toàn tập, tập 3. Nxb Chính trị Quốc gia Sự Thật. Hà Nội. Tr.11
[9] U.S.Commission on international religious freedom (2026). Annual Report. Washington, DC. Pp.52
[10] Vụ việc liên quan đến Thiền Am bên bờ vũ trụ.
[11] U.S.Commission on international religious freedom (2026). Annual Report. Washington, DC. Pp.52
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.