Tục trọng xỉ qua hương ước cổ làng xã Bắc Trung Bộ: Giá trị truyền thống và ý nghĩa trong đời sống văn hóa hiện nay
Hương ước cổ của làng xã vùng Bắc Trung Bộ phản ánh nhiều giá trị văn hóa truyền thống, trong đó tục trọng xỉ là một biểu hiện tiêu biểu của đạo lý kính lão và sự coi trọng vị thế của người cao tuổi trong cộng đồng.
Trong hệ thống hương ước cổ của làng xã Việt Nam, tục trọng xỉ là một trong những nội dung phản ánh rõ nét các quan niệm đạo đức và nguyên tắc tổ chức xã hội truyền thống. Lấy tinh thần kính lão, tôn hiền làm nền tảng, hương ước cổ quy định khá cụ thể về vị thế, lễ nghi, quyền lợi và sự trọng đãi đối với người cao tuổi, qua đó khẳng định vai trò của họ trong đời sống cộng đồng. Ở vùng Bắc Trung Bộ, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống của làng xã Việt, tục trọng xỉ không chỉ thể hiện đạo lý kính già mà còn gắn với cơ chế tự quản, duy trì kỷ cương và củng cố sự cố kết cộng đồng.
Trong bối cảnh hiện nay, trước những biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội và quá trình xây dựng nông thôn mới, việc nhận diện, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của làng xã đặt ra những yêu cầu mới. Tục trọng xỉ, với những giá trị nhân văn được lưu giữ trong hương ước cổ, cần được nhìn nhận trong bối cảnh lịch sử cụ thể, qua đó làm rõ những giá trị có thể kế thừa và phát huy trong gìn giữ bản sắc văn hóa, củng cố đạo lý kính lão, hiếu nghĩa và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hiện nay.
1. Tục trọng xỉ qua hương ước cổ làng xã Bắc Trung Bộ - những giá trị truyền thống tiêu biểu
Hương ước cổ truyền là văn bản quy định các nguyên tắc tổ chức và quản lý đời sống cộng đồng làng xã, đồng thời phản ánh nhiều giá trị đạo đức, phong tục và tập quán truyền thống. Trong đó, tục trọng xỉ là một nội dung nổi bật, thể hiện quan niệm coi trọng người cao tuổi, lấy tuổi tác, đức hạnh và uy tín làm những căn cứ xác lập vị thế của cá nhân trong cộng đồng: “Với tư cách là một thiết chế tự quản, làng xã truyền thống duy trì trật tự xã hội không chỉ bằng các quy định về quyền và nghĩa vụ mà còn thông qua những chuẩn mực đạo đức được thể chế hóa trong hương ước”.[1][2]
Tục trọng xỉ - kính trọng người cao tuổi - là một giá trị đạo đức phổ biến trong nhiều nền văn minh, gắn với sự tôn vinh kinh nghiệm sống và tri thức của các bậc cao niên. Ở Việt Nam, truyền thống nhân văn này không chỉ tồn tại như một tập quán ứng xử dân gian mà còn được thể chế hóa tương đối chặt chẽ trong hệ thống hương ước cổ. Gắn với các chuẩn mực đạo đức truyền thống như hiếu, lễ, nghĩa, sự tôn kính người cao tuổi trong làng xã Bắc Trung Bộ được cụ thể hóa thành những quy ước điều chỉnh hành vi, qua đó góp phần duy trì kỷ cương, nuôi dưỡng nếp sống nghĩa tình và củng cố sự cố kết cộng đồng.
1.1. Đề cao đạo lý kính lão, hiếu nghĩa
Một trong những giá trị nổi bật của tục trọng xỉ là đề cao đạo lý kính lão, hiếu nghĩa, một trong những chuẩn mực đạo đức được coi trọng trong xã hội truyền thống. Quan niệm coi người cao tuổi là biểu tượng của phúc thọ, kinh nghiệm và uy tín đã được cộng đồng làng xã thể chế hóa trong hương ước. Một số bản hương ước cổ vùng Bắc Trung Bộ khẳng định tuổi tác là căn cứ quan trọng để xác lập thứ bậc và vị thế của mỗi cá nhân trong cộng đồng: “Trong làng xã tuổi tác là hơn hết… Từ nay phải lấy tuổi tác hơn kém mà quy định trật tự ăn ngồi”[3]. Trên cơ sở đó, hương ước cũng quy định cụ thể các chuẩn mực ứng xử đối với người cao tuổi, như lễ phép khi giao tiếp, nhường vị trí trong các sinh hoạt cộng đồng, quan tâm, giúp đỡ khi gặp khó khăn, đồng thời đặt ra các hình thức xử phạt đối với những hành vi thiếu tôn kính hoặc xúc phạm người già. Những quy định này góp phần nuôi dưỡng đạo lý kính trọng người cao tuổi, củng cố nề nếp ứng xử và giữ gìn các chuẩn mực đạo đức trong đời sống làng xã. Lệ làng Phúc Kinh (Quảng Trị) yêu cầu rất rõ người già là một trong những đối tượng quan trọng nhất để được cộng đồng giúp đỡ: “Đối với người trong làng nên hòa mục giúp đỡ lẫn nhau, kính già thương trẻ, giúp đỡ nhau khi bệnh tật, khi gặp hoạn nạn phải cứu giúp nhau, thương yêu những người cô quả, chớ khinh bần ức hiếp người yếu”[4].
Đặc biệt, đạo hiếu trong gia đình được nâng lên thành chuẩn mực xã hội, khi các hành vi bất hiếu không chỉ bị phê phán mà còn bị xử phạt và tước bỏ vị thế trong cộng đồng. Theo quy định của xã Như Áng (nay là xã Kiên Thọ, tỉnh Thanh Hóa) viết: “Bản xã lấy tục lệ tốt làm đầu, người nào bất hiếu (có cha mẹ mà bỏ bê không cung kính phụng dưỡng và chửi bới cha mẹ), bản xã định tội tùy theo mức độ nặng nhẹ, ghi vào trong khoán ước, dù tên đó tuổi đến vị thứ trùm trưởng cũng không được ngồi vào chỗ đó, để dạy cái tội không hiểu biết”[5]. Như vậy, đạo lý kính lão không dừng lại ở phạm vi gia đình mà được “cộng đồng hóa”, trở thành nền tảng duy trì kỷ cương và nề nếp nơi làng xã.
1.2. Tôn vinh kinh nghiệm, uy tín và vai trò của người cao tuổi
Không chỉ dừng ở bình diện đạo đức, tục trọng xỉ trong hương ước cổ làng xã Bắc Trung Bộ còn thể hiện như một giá trị quan trọng trong tổ chức và điều hành đời sống cộng đồng, tôn vinh và bảo tồn kinh nghiệm sống khi lấy nguyên tắc “trọng tuổi” làm cơ sở cho việc xác lập vị thứ đình trung, phân định quyền lợi, nghĩa vụ và quy định sự tham gia của người cao tuổi vào các công việc chung của làng như viết, chỉnh sửa khoán ước (tục lệ) của làng; góp ý sửa chữa cơ sở tín ngưỡng đình, chùa; hoặc tham gia nghĩa vụ phu phen, tạp dịch, đóng thuế cho nhà nước tùy quy định của mỗi làng. Trong đó, ưu tiên vị thứ chốn đình trung - một biểu hiện của lệ hương ẩm gắn với sự phân chia thứ bậc trong làng xã Việt Nam qua vị trí chỗ ngồi nơi đình làng là ân điển quan trọng nhất. Dù khuynh hướng “trọng tước” (tôn vinh người đỗ đạt, có chức sắc) dần chiếm ưu thế theo sự phát triển của hệ thống khoa cử, song trật tự dựa trên tuổi tác (trọng xỉ) vốn mang tính phổ quát vẫn được duy trì bền vững. Ở nhiều làng xã, vị thế và uy tín của người cao tuổi tiếp tục được coi trọng như một nguyên tắc ứng xử căn bản của cộng đồng.
Với tâm niệm “hương đảng mạc như xỉ”, nghĩa là trong sinh hoạt cộng đồng, việc tôn ti thứ bậc phải lấy tuổi tác làm chuẩn mực cao nhất, nhiều làng đã ưu tiên sắp xếp vị trí ngồi cùng số mâm cỗ theo độ tuổi của các cụ từ cao xuống thấp theo nguyên tắc: “Ưu tiên định vị trung -tiền - tả - hữu” theo thứ tự tước - xỉ và văn - võ, có nghĩa là chuyện ngôi thứ được ưu tiên tính từ gian giữa đến gian tả rồi gian hữu, từ trước lui sau”[6]. Nghĩa là trong quy định về vị thứ đình trung, yếu tố tuổi tác tiếp tục được coi trọng như một tiêu chí quan trọng để xác lập trật tự chốn hương ẩm của làng xã Bắc Trung Bộ. Theo Khoán lệ làng Phong Lai (Quảng Điền, Thừa Thiên Huế), vị trí chốn đình trung của làng luôn dành cho các Thủ chỉ (Hội chủ), Lý dịch chức sắc và những người từ 70 tuổi trở lên sẽ được ngồi dự ở phần trước. Chính giữa đình là chỗ ngồi của quan Thủ chỉ cùng các chức sắc, khoa mục, hội chủ. Các vị chức sắc thì quan văn ngồi bên trái, quan võ ngồi bên phải cùng các cụ già trên 70 tuổi. Các cụ thấp tuổi hơn sẽ lần lượt ngồi gian sau[7].
Theo lệ xã Phù Lưu Thượng (Thừa Thiên Huế), mặc dù không ngồi ở gian chính giữa - vốn dành cho các quan viên văn võ có khoa mục, nhưng người cao tuổi vẫn được ưu tiên bố trí ở hàng đầu trong nhóm dân thường, thể hiện sự tôn kính đặc biệt đối với tuổi tác. Cách sắp xếp không gian đình làng theo các trục trung - tả - hữu cũng phản ánh rõ nguyên tắc kết hợp giữa “trọng tước” và “trọng xỉ”: gian trung dành cho quan viên, gian tả cho các chức sắc từ 50 tuổi trở lên, còn gian hữu là nơi sắp xếp dân đinh theo thứ tự tuổi tác[8].
Việc ưu tiên vị thứ chốn đình trung cho người cao tuổi của làng xã vùng Bắc Trung Bộ chủ yếu dựa trên nhận thức rằng trong trật tự xã hội, ngoài tầng lớp sĩ thứ và những người có công với làng, thì bậc cao niên giữ vị trí đặc biệt do tuổi tác gắn với kinh nghiệm và sự uy tín. Việc xác lập vị thế của người già trong cùng hệ quy chiếu với nhóm có chức tước, học hạnh cho thấy tục trọng xỉ không chỉ mang ý nghĩa đạo lý, mà còn được thể chế hóa thành nguyên tắc tổ chức xã hội cụ thể trong đời sống làng xã. Ngay cả đối với những làng xã có xu hướng “trọng tước” khi mà tiêu chí văn bằng và chức sắc thường được đặt lên hàng đầu trong việc xác lập trật tự ngôi thứ tại đình làng, thì ưu tiên cho người cao tuổi vẫn được điều chỉnh trong khuôn khổ nguyên tắc trọng tuổi tác.
Đặc biệt trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiên tai xảy ra thường xuyên hơn so với miền Bắc, đời sống người dân vùng Bắc Trung Bộ nhiều biến động, thì người cao tuổi được coi là “kho kinh nghiệm sống”, giữ vai trò quan trọng trong hòa giải, điều hành và xử lý tình huống của làng. Bởi vậy trong khá nhiều hương ước cổ làng xã Bắc Trung Bộ đều có các điều khoản đề cập đến việc mời hoặc quy định người cao tuổi có trách nhiệm tham gia bàn nghị và xử lý các công việc hệ trọng của làng, nhất là tham gia trực tiếp vào việc giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong đời sống hàng ngày. Quy định của làng Phúc Kinh (Quảng Trị) nêu rõ, khi gặp việc khó phân xử, dân làng phải thỉnh mời các bậc lão niên đứng ra phân giải[9].
Theo quy định của nhiều hương ước cổ, những người cao tuổi có uy tín còn được trao giữ những vị trí mang tính nghi lễ và biểu trưng trong đời sống cộng đồng. Họ thường được lựa chọn đảm nhiệm vai trò chủ tế, bồi tế hoặc soạn thảo văn tế trong các dịp lễ trọng của làng. Đáng chú ý, một số chức danh hành chính ở cấp làng như Thủ bạ, xã bạ hay tọa kế trưởng mục cũng được ưu tiên tuyển chọn từ những người cao tuổi, như trường hợp xã Vĩnh Lại (Hà Tĩnh) quy định từ giữa thế kỷ XIX.
Nhìn chung, việc quy định người cao tuổi trong làng được tham gia xây dựng hương ước, tục lệ cũng như các công việc chung của làng vừa là quyền lợi nhưng cũng là trách nhiệm lớn lao của người già nơi làng xã vùng Bắc Trung Bộ nhằm góp phần vào việc xây dựng quy ước, tục lệ của làng để chấn chỉnh, ràng buộc cộng đồng cư dân làng xã có ý thức sống và làm việc theo đúng thuần phong mỹ tục, pháp luật của nhà nước. Việc trao cho người già vai trò thực chất trong đời sống cộng đồng thông qua điều khoản cụ thể trong hương ước cho thấy một nhận thức sâu sắc: kinh nghiệm tích lũy qua thời gian là nguồn lực quan trọng để duy trì ổn định xã hội. Như vậy, trọng xỉ không chỉ mang ý nghĩa tôn vinh biểu tượng mà còn là cơ chế bảo tồn và truyền tải tri thức dân gian, khẳng định vị trí của người cao tuổi như một thiết chế tham vấn quan trọng trong cơ cấu vận hành ở cấp cơ sở.
1.3. Thực hiện các hình thức ưu đãi đối với người cao tuổi
Tục trọng xỉ qua hương ước cổ của làng xã Bắc Trung Bộ còn thể hiện sâu sắc phương diện nhân văn trong quan niệm và ứng xử đối với người cao tuổi, biểu hiện cụ thể nhất qua các chính sách ưu đãi của làng xã đối với người cao tuổi như miễn giảm sưu dịch, cấp ruộng dưỡng lão, tổ chức tang lễ, phúng điếu, mừng thọ. Theo quy định của nhiều làng xã Bắc Trung Bộ, những người già khi lên hạng lão (độ tuổi hạng lão thường từ 50 tuổi trở lên, tùy quy định của mỗi làng) được làng miễn thực hiện một số nghĩa vụ lao dịch phu phen, tạp dịch, miễn giảm việc đóng thuế cho nhà nước; tham gia hội họp hoặc thực hiện nghĩa vụ đóng góp với làng với mức miễn, giảm nhiều ít tùy lệ của từng làng. Theo lệ của nhiều làng xã Thanh Hóa, những người từ 50 đến 55 tuổi được miễn các tạp dịch và giảm một nửa mức thuế phải nộp. Đối với hạng lão từ 60 tuổi trở lên, làng quy định miễn toàn bộ thuế khóa, thể hiện rõ chính sách trong lão trong tổ chức đời sống cộng đồng làng xã cổ truyền xưa.
Bên cạnh đó, nhằm tôn vinh công lao và kinh nghiệm sống của người già, nhiều làng vẫn duy trì về lệ dưỡng lão (một số làng gọi là tuế lão, yến lão, thượng thọ). Theo hương ước cổ xã Phù Lưu, tổng Phù Lưu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh dành phần ruộng dưỡng lão gồm 19 thửa gần nhau cho các cụ già từ 80 tuổi trở lên. Theo đó, người thọ 100 tuổi chiểu cấp 4 phần, thọ 90 tuổi trở lên cấp mỗi người 3 phần, thọ 80 tuổi trở lên, cấp mỗi người 2 phần[10]. Lệ dưỡng lão thực chất đó là ngày chúc thọ cho người già đang phổ biến trong xã hội hiện nay. Việc tổ chức dưỡng lão được tổ chức như thế nào, hương ước cổ vùng Bắc Trung Bộ rất ít đề cập đến, nhưng theo tập tục chung của làng xã Việt Nam, vào dịp này, các cụ lên thượng thọ sẽ được làng tổ chức đón rước long trọng, được ban thưởng tiền hoặc hiện vật trong dịp mừng thọ. Chẳng hạn, theo lệ làng Dã Lê Thượng (Hương Thủy, Thừa Thiên Huế), mức mừng thọ được quy định tăng dần theo tuổi, từ 70 đến 100 tuổi, ngoài được thưởng trầu, cau còn kèm theo trướng “thọ” và tiền mừng tương ứng.
Khi người cao tuổi qua đời, nhiều làng xã vẫn duy trì các lệ tục thể hiện sự kính trọng và nghĩa tình của cộng đồng, đồng thời hỗ trợ phần nào đối với thân nhân trong việc lo liệu hậu sự. Ở làng Phú Văn (nay thuộc xã Bình Minh, Nghệ An), khi bậc kỳ lão, lão nhiêu mất, làng cử người đi điếu, kèm một quan tiền và trầu rượu; đồng thời ruộng dưỡng lão đã cấp trước đó được giao cho con cháu canh tác đến khi mãn tang rồi mới thu hồi[11]. Tại làng An Gia (Quảng Điền, Thừa Thiên Huế), các bô lão giữ chức vị trong làng khi qua đời được cấp tiền tuất cao hơn dân thường, thể hiện sự phân biệt theo địa vị xã hội và công lao đối với cộng đồng. Ở làng Lại Ân (thành phố Huế), chế độ ưu đãi của làng còn mở rộng đến việc cấp đất táng và duy trì phần ruộng khẩu phần trong một thời gian sau khi mất, tạo điều kiện để tang lễ và hậu sự được chu toàn... Nhìn chung, những quy định trên đây không chỉ mang ý nghĩa vật chất, mà còn là sự khẳng định danh dự và vị thế xã hội của người cao tuổi trong cộng đồng. Sự quan tâm của làng xã đối với người cao tuổi không chỉ dừng lại ở đời sống khi còn sinh thời, mà còn được tiếp nối một cách trọn vẹn sau khi họ qua đời, như một biểu hiện cuối cùng của đạo lý kính lão và tinh thần nghĩa tình trong đời sống làng xã cổ truyền.
2. Kế thừa và phát huy giá trị truyền thống của tục trọng xỉ trong đời sống hiện nay
Trong xã hội truyền thống, nhất là ở phạm vi làng xã, việc kính trọng người cao tuổi vốn đã được thể chế hóa tương đối đầy đủ, không chỉ ở phương diện luân lý mà còn trong nguyên tắc tổ chức cộng đồng và sự phân phối quyền lợi thông qua hương ước. Những giá trị tốt đẹp của tục trọng xỉ vì thế được duy trì và kế tục qua nhiều đời.

Đến thời kỳ hiện đại, tinh thần ấy tiếp tục được Đảng và Nhà nước ta kế thừa, nâng tầm và thể chế hóa thành hệ thống chủ trương, chính sách pháp luật nhất quán. Ý thức tôn kính và bảo vệ người cao tuổi không còn dừng lại ở phạm vi hương thôn hay quy ước làng xã mà đã trở thành chính sách quốc gia.
Thể chế hóa đường lối của Đảng, Nhà nước đã ban hành Luật Người cao tuổi năm 2009, tạo hành lang pháp lý toàn diện điều chỉnh cả hai khía cạnh: chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi. Giá trị nhân văn này tiếp tục được khẳng định và nâng lên tầm hiến định tại Điều 37, Hiến pháp năm 2013: “Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đặc biệt, trong hai năm 2024 - 2025, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước tiếp tục có những bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa quyền lợi vật chất và mạng lưới an sinh cho người cao tuổi: Chính phủ ban hành Nghị định số 76/2024/NĐ-CP điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ cấp xã hội; Quốc hội thông qua Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025) lồng ghép tầng Trợ cấp hưu trí xã hội, chính thức hạ độ tuổi thụ hưởng trợ cấp từ 80 xuống 75 tuổi đối với người không có lương hưu.
Trong bối cảnh hiện nay, tục trọng xỉ ở nhiều địa phương vùng Bắc Trung Bộ đã có những biến đổi nhất định. Tinh thần kính lão vẫn được duy trì trong gia đình và cộng đồng; tuy nhiên, những quy định mang tính bắt buộc về thứ bậc, lễ nghi và quyền lợi trong hương ước cổ truyền phần lớn đã chuyển thành các chuẩn mực mang tính khuyến khích. Hiện nay, nhiều địa phương tiếp tục đưa nội dung kính trọng người cao tuổi vào hương ước, quy ước cộng đồng. Các quy định chủ yếu tập trung vào chuẩn mực ứng xử trong gia đình và cộng đồng, chăm sóc người cao tuổi, đồng thời phát huy vai trò của họ trong hòa giải, khuyến học và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
Dẫu có những biến đổi về hình thức và vị thế xã hội, các giá trị cốt lõi của tục trọng xỉ vẫn được kế thừa ở những mức độ khác nhau. Người cao tuổi tiếp tục được tôn trọng và phát huy vai trò trong truyền dạy kinh nghiệm, gìn giữ phong tục, hòa giải, khuyến học và các hoạt động cộng đồng.
3. Tạm kết
Trong “Lời hiệu triệu đoàn kết tất cả các bậc phụ lão” (tháng 6/1941), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ vai trò của người cao tuổi đối với quốc gia: “Đất nước hưng thịnh do phụ lão xây dựng, đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức. Nước mất, phụ lão cứu, nước suy sụp, phụ lão phù trì…”, đồng thời nhấn mạnh: “Người cao tuổi là của quý vô giá của dân tộc, của Nhà nước”. Thấm nhuần tư tưởng đó, các Văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt là Đại hội XIII, tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ “Phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống của người cao tuổi trong xã hội và gia đình”, gắn với Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi do Chính phủ ban hành. Đây là cơ để tiếp tục hoàn thiện chính sách và phát huy vai trò của người cao tuổi trong đời sống xã hội.
Người cao tuổi là nguồn lực quan trọng về kinh nghiệm và uy tín xã hội, do đó, cần tiếp tục phát huy vai trò của họ trong các tổ chức như hội người cao tuổi, tổ hòa giải, ban khuyến học, đồng thời mở rộng vai trò trong giáo dục truyền thống, truyền dạy tri thức bản địa và gìn giữ ký ức cộng đồng. Bảo tồn giá trị trọng xỉ cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa với hệ thống an sinh xã hội hiện đại, kết hợp giữa chính sách an sinh và truyền thống kính lão, phát huy vai trò phối hợp giữa gia đình, địa phương và nhà nước.
Qua hương ước cổ vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam có thể thấy, tục trọng xỉ không chỉ là một chuẩn mực đạo đức mà còn là một giá trị văn hóa mang chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng làng xã, chi phối nhiều phương diện từ tổ chức trật tự xã hội, điều hành sinh hoạt làng xã đến bảo đảm an sinh và duy trì mối liên kết giữa các thế hệ. Những giá trị được kết tinh qua tục trọng xỉ, đặc biệt là tinh thần kính lão, đề cao kinh nghiệm và uy tín của người cao tuổi, đã góp phần tạo nên sự ổn định và bền vững của cấu trúc làng xã truyền thống.
Trong bối cảnh hiện nay, dù chịu nhiều tác động của quá trình biến đổi xã hội, các giá trị này vẫn còn ý nghĩa thiết thực, cần được nhận diện một cách đầy đủ để có hướng kế thừa phù hợp. Việc bảo tồn và phát huy tục trọng xỉ vì thế không chỉ dừng lại ở việc duy trì các hình thức biểu hiện bên ngoài, mà quan trọng hơn là tiếp tục nuôi dưỡng và củng cố những giá trị nhân văn cốt lõi, nhằm góp phần xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng vừa giàu bản sắc, vừa thích ứng với yêu cầu của xã hội đương đại.
Tài liệu tham khảo:
1. Ninh Viết Giao (cb), Hương ước Nghệ An, Nxb Chính trị quốc gia, 1998
2. Phan Huy Lê, Làng xã Việt Nam: Một số vấn đề kinh tế - xã hội, Nxb, Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998
3. Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011
4. Nguyễn Hữu Thông (Cb), Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung Bộ, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2007
5. Võ Quang Trọng, Vũ Ngọc Khánh (Sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu), Hương ước Thanh Hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000
6. Sở Văn hóa Thể thao, Thư viện Tổng hợp, Hương ước làng tại tỉnh Thừa Thiên Huế (tuyển dịch), Nxb Thuận Hóa, 2023
7. Võ Quang Vinh, Hương ước Hà Tĩnh, Nxb Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh, 1996
8. Văn Định, "Vai trò của người cao tuổi trong xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở", nguồn: https://nhandan.vn/vai-tro-nguoi-cao-tuoi-trong-xay-dung-he-thong-chinh-tri-o-co-so-post842193.html, ngày 30/10/2024.
9. Quốc hội, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, Điều 37.
10. Trang đầu bản Hương ước làng Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, nguồn: https://baoquangbinh.vn/van-hoa-van-nghe/201305/mot-huong-uoc-co-o-quang-binh-2106475/, đăng ngày: 7/5/2013
[1] Ninh Viết Giao (cb), Hương ước Nghệ An, Nxb Chính trị Quốc gia, 1998, tr.4
[2] Phan Huy Lê, Làng xã Việt Nam: Một số vấn đề kinh tế – xã hội, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998
[3] Ninh Viết Giao (cb), Hương ước Nghệ An, Sđd, tr. 146
[4] Nguyễn Hữu Thông (Cb), Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung Bộ, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2007, tr.565
[5] Võ Quang Trọng, Vũ Ngọc Khánh (Sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu), Hương ước Thanh Hóa, Nxb KHXH, Hà Nội, 2000, tr.41
[6] Nguyễn Hữu Thông (Cb), Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung Bộ, Sđd; tr. 112.
[7] Sở VHTT Thư viện Tổng hợp, Hương ước làng tại tỉnh Thừa Thiên Huế (tuyển dịch), Nxb Thuận Hóa, 2023,
[8] Nguyễn Hữu Thông (Cb), Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung Bộ, Sđd, tr.56
[9] Nguyễn Hữu Thông (Cb), Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung Bộ, Sđd, tr.563
[10] Võ Quang Vinh: Hương ước Hà Tĩnh, Nxb Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh, 1996, tr.57
[11] Ninh Viết Giao (cb), Hương ước Nghệ An, Sđd, tr.184


