Trao đổi

Tự do tôn giáo ở Việt Nam - USCIRF cần thiện chí, khách quan trong đánh giá

Ngô Quốc • 13/10/2026 17:19

Việc Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Mỹ (USCIRF) đề nghị Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) năm 2025 với lý do cho rằng Việt Nam có những vi phạm nghiêm trọng về quyền tự do tôn giáo là hoàn toàn mang tính “cáo buộc”, thiếu căn cứ, không khách quan.

1. Việt Nam là đất nước tự do tôn giáo

Trong Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), mà Việt Nam là quốc gia thành viên, tại Điều 18 nêu rõ: “Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ”[1]. Việt Nam là quốc gia thành viên của ICCPR, luôn có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều này được thể hiện trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam, trước hết ở Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật này là Nghị định 162/2017/NĐ-CP, sau được thay thế bằng Nghị định 95/2023/NĐ-CP.

Việc bảo đảm đó cũng thấy rõ qua sự tăng trưởng, phát triển của các tổ chức tôn giáo. Đời sống tôn giáo của người dân được Nhà nước bảo đảm. Vì vậy, việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam vừa là nghĩa vụ pháp lý trong nước, vừa là cam kết quốc tế có tính ràng buộc.

Đại lễ Phật đản Vesak 2025 tại Việt Nam - một đất nước tự do tôn giáo
Đại lễ Phật đản Vesak 2025 tại Việt Nam - minh chứng rõ rệt của một đất nước tự do tôn giáo (Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng, Báo điện tử Chính phủ)

Báo cáo thường niên năm 2025[2] của USCIRF[3] đánh giá năm 2024 cho rằng Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo. Họ liệt kê Việt Nam vào những quốc gia cần quan tâm đặc biệt về lĩnh vực này. Đây là một hành động mang nhiều tính chủ quan, áp đặt và thiếu thiện chí.

Các quan điểm khác nhau về nhân quyền có thể tạo ra những bất đồng quan điểm giữa các nước, đồng thời cũng có thể nảy sinh việc lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp sâu vào nội bộ từng quốc gia. Vì vậy, Việt Nam chủ trương: “Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam”[4].

Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh và đề cao việc bảo đảm thực hiện quyền con người ở Việt Nam.

2. Những thông tin, nhận định thiếu căn cứ trong báo cáo của USCIRF

Báo cáo của USCIRF cho rằng Việt Nam sử dụng công cụ pháp lý để kiểm soát tôn giáo là thiếu thiện chí

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 của Việt Nam là văn bản pháp lý mang tính toàn diện, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng và minh bạch cho việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý cụ thể hóa các nội dung về quyền con người trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013. Luật xác định quyền tự do tín ngưỡng và cụ thể hóa các quyền như: thành lập tổ chức, xây dựng cơ sở thờ tự, xuất bản kinh sách, mở trường đào tạo tôn giáo, tổ chức lễ hội… Cụ thể hóa việc thực hiện luật này, Nghị định 95/2023/NĐ-CP đã đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường giám sát nhưng vẫn bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo.

Từ khi Luật và Nghị định có hiệu lực, hàng trăm tổ chức tôn giáo và hàng nghìn điểm nhóm đã được công nhận, đăng ký sinh hoạt ổn định trên khắp cả nước.

604-202607141109332.jpg
Chủ tịch nước Tô Lâm tặng quà đại biểu là các chức sắc, lãnh đạo các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam tại buổi gặp mặt tháng 6/2024 (Ảnh: Cổng thông tin điện tử Bộ Nội vụ)

Báo cáo của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Mỹ cho rằng: Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định 95/2023/NĐ-CP để kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tôn giáo[5]. Nhận định này là hết sức gượng ép, vì Việt Nam quản lý hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng theo pháp luật. Tất cả luật đều công khai và được Quốc hội thông qua, Chính phủ thực thi và được các cơ quan chức năng và nhân dân giám sát. Báo cáo USCIRF cho rằng các thủ tục hành chính như đăng ký, báo cáo thay đổi nhân sự, cung cấp hồ sơ tài chính là sự gây khó khăn, trở ngại của Việt Nam với các tổ chức tôn giáo. Trên thực tế những quy định này là nhằm đảm bảo minh bạch và trách nhiệm pháp lý.

Báo cáo cho rằng Việt Nam đối xử sai với cá nhân tôn giáo là thiếu căn cứ

USCIRF dẫn nhiều trường hợp (như Y Krec Bya[6], Nay Y Blang[7], Thạch Cương, Tô Hoàng Chương[8]…) cho rằng, các cá nhân này bị bắt vì liên quan đến các hoạt động tôn giáo hoặc vận động cho tự do tôn giáo[9]. Việt Nam khẳng định các vụ việc trên là do các đối tượng vi phạm pháp luật hình sự như: kích động chia rẽ dân tộc hoặc tuyên truyền chống nhà nước, chứ không phải bị bắt và tuyên án vì lý do thực hành tín ngưỡng, tôn giáo.

Hiến pháp 2013 đã đưa ra quy định cụ thể về việc quyền con người và quyền công dân có thể bị giới hạn, với điều kiện là sự hạn chế đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người. Khoản 2 Điều 14 nêu rõ: chỉ trong những trường hợp cần thiết như bảo vệ quốc phòng, an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục và sức khỏe cộng đồng, thì quyền con người và quyền công dân mới được phép bị hạn chế theo quy định của pháp luật[10].

Trong các văn bản pháp luật hiện hành Việt Nam, không có điều khoản nào quy định việc công dân Việt Nam bị truy tố chỉ vì niềm tin tôn giáo. Hệ thống tư pháp bảo đảm xét xử công bằng và USCIRF không đưa ra được bằng chứng cho thấy quá trình tố tụng bị vi phạm.

Báo cáo cho rằng Việt Nam cưỡng bức các nhóm tôn giáo dân tộc thiểu số là sai sự thật

Báo cáo USCIRF cho rằng một số tín đồ Tin lành tại Tây Nguyên và Tây Bắc bị đàn áp[11] là hoàn toàn sai sự thật.

Nhìn lại lịch sử, sau khi nước Việt Nam giành độc lập, một ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị “Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”[12]. Tiếp đó, Hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, Điều 10 đã ghi nhận quyền con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng.

Như vậy, trước khi có Tuyên ngôn năm 1948 về quyền con người, thì Hiến pháp Việt Nam đã ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng (diễn ngôn khi ấy được hiểu bao gồm cả tự do tôn giáo)[13] là một trong những quyền quan trọng đó.

Hiến pháp Việt Nam sửa đổi các năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều nhất quán tư tưởng này.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một giá trị được xác lập ở Việt Nam, được nhất quán xuyên suốt chứ không phải là một vấn đề mới. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Hiện nay, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định 95/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể về quyền đăng ký sinh hoạt tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo, bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Các điều khoản này không phân biệt tôn giáo lớn hay nhỏ, người dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, mà hướng tới quản lý nhà nước minh bạch, công bằng, và phù hợp với lợi ích chung. Chính phủ khuyến khích đăng ký tự nguyện để phân biệt giữa thực hành tôn giáo thuần tuý theo nhu cầu tinh thần của nhân dân và các nhóm lợi dụng tôn giáo để gây rối. Quy định như vậy là phù hợp với nghĩa vụ của Nhà nước trong bảo vệ trật tự tại các khu vực nhạy cảm có tiền sử bất ổn.

Việt Nam hoàn toàn không có điều khoản pháp luật cho phép cơ quan công quyền cưỡng ép cá nhân từ bỏ niềm tin tôn giáo. Ngược lại, Điều 5 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo nghiêm cấm “lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ nhân dân, dân tộc, phá hoại đoàn kết dân tộc, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”.

Nhà nước Việt Nam luôn dành sự ưu tiên và đầu tư đáng kể cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có bảo tồn tín ngưỡng truyền thống. Các chương trình như, xuất bản Kinh Thánh bằng tiếng Mông, Ê-đê, Jarai, Banar…, tổ chức lớp tập huấn cho chức sắc dân tộc thiểu số, hay các chuyến hành hương, đều thể hiện sự bảo đảm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.

Báo cáo cho rằng Việt Nam đàn áp tổ chức tôn giáo chưa đăng ký là không xác đáng

Báo cáo nêu việc các nhóm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị gây khó khăn trong hoạt động và một số tổ chức Cao Đài bị chính quyền gây khó dễ[14]. Cáo buộc này không thuyết phục vì nó dựa trên lối dẫn liệu một chiều, thiếu căn cứ kiểm chứng. Mục tiêu không phải là mô tả sự thật một cách công bằng, mà là dựng nên một hình ảnh tiêu cực về Việt Nam.

Pháp luật Việt Nam hiện hành bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cấm xâm phạm quyền ấy, và trên thực tế Nhà nước đã công nhận, tạo điều kiện cho nhiều tổ chức tôn giáo hoạt động công khai, trong đó có các tổ chức Cao Đài. Vì vậy, quy kết từ một vài thông tin chưa được kiểm chứng để nói rằng Việt Nam đàn áp hay sách nhiễu có hệ thống đối với Cao Đài độc lập là một sự suy diễn võ đoán, thiếu khách quan và nặng động cơ chính trị.

Khung pháp lý của Việt Nam không cấm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật. Những gì bị quản lý là các tổ chức lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị trái phép hoặc tranh chấp đất đai dưới danh nghĩa tôn giáo. Việc cưỡng chế, xử lý hành chính thường là do vi phạm dân sự (ví như: xây dựng trái phép, chiếm dụng đất…), đều không phải đàn áp tôn giáo. Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng sự khác biệt giữa niềm tin tôn giáo và hành vi lợi dụng niềm tin tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Pháp luật Việt Nam không cấm hoạt động tôn giáo, nhưng yêu cầu các tổ chức tôn giáo đăng kí sinh hoạt. Qua việc đăng ký, các tôn giáo được bảo đảm quyền lợi pháp lý, minh bạch về cơ cấu và hoạt động, tránh bị lợi dụng bởi thế lực phản động. Từ đăng ký sinh hoạt và hoạt động, có thể bảo vệ chính tổ chức tôn giáo và tín đồ khỏi các rủi ro pháp lý.

Cũng không có quy định nào trong luật pháp Việt Nam cho phép cưỡng chế tín đồ từ bỏ nhóm chưa đăng ký để gia nhập nhóm được công nhận. Nếu người theo tôn giáo gia nhập tổ chức tôn giáo được công nhận, sẽ góp phần tạo tính minh bạch trong hoạt động, thống nhất trong quản lý, và tạo điều kiện để tổ chức tôn giáo tiếp cận chính sách công, xây dựng cơ sở thờ tự, đào tạo chức sắc.

Với trường hợp Cao Đài, hiện nay Việt Nam công nhận 10 tổ chức Cao Đài và 1 pháp môn. Việc công nhận từng tổ chức tùy thuộc vào việc tổ chức đó có tôn chỉ tôn giáo rõ ràng, có đại diện hợp pháp, và không hoạt động vi phạm pháp luật. Do đó một số hệ phái chưa được công nhận vì chưa đủ các điều kiện theo quy định pháp luật, không thống nhất đại diện pháp lý, hoặc bị lợi dụng để thực hiện tuyên truyền chính trị, kích động chia rẽ khối đoàn kết tôn giáo-dân tộc.

Còn về tình huống Phật giáo mà báo cáo Uỷ ban tự do Tôn giáo quốc tế nêu, liên quan đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Đây là một tổ chức tôn giáo liên quan đến giai đoạn trước 1975 và không được công nhận về tư cách pháp nhân ở Việt Nam theo luật hiện hành.

3. Sự thiếu khách quan và thiếu nhất quán trong Báo cáo của USCIRF

Qua nội dung ở trang 42 và 43 của Báo cáo USCIRF 2025 về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam năm 2024, có thể thấy cách tiếp cận của cơ quan này thiếu nhất quán. Một mặt, USCIRF thừa nhận Việt Nam là quốc gia có đời sống tôn giáo đa dạng và đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau[15]. Mặt khác, Báo cáo lại kết luận rằng chính quyền Việt Nam “hạn chế rộng khắp” quyền tự do tôn giáo. Hai nhận định ấy rõ ràng thiếu ăn khớp với nhau.

Việc họ chỉ trích Việt Nam vẫn duy trì quy trình pháp lý đối với hoạt động công nhận và đăng ký tổ chức tôn giáo cũng cho thấy cơ quan này đang lấy tiêu chuẩn chính trị của Mỹ để áp vào hệ thống pháp luật của một quốc gia có chủ quyền. Thực tế tại nhiều nước phát triển, các tổ chức tôn giáo cũng phải tuân thủ những điều kiện pháp lý khá chặt chẽ, kể cả về tổ chức, tài chính và nhân sự.

Báo cáo lựa chọn thông tin thiên lệch khi nhấn mạnh một số sự kiện tranh chấp đất đai liên quan đến Giáo hội Công giáo ở Bình Thuận, hoặc các hiện tượng “tôn giáo mới” chưa được công nhận như Dương Văn Mình, Bà Cô Dợ… ở miền núi phía Bắc mà không đề cập tới các cơ chế pháp lý, đối thoại và hỗ trợ thực tế của chính quyền đối với đa số các tổ chức tôn giáo khác đang hoạt động ổn định tại Việt Nam.

Sự thiếu công bằng cũng thể hiện qua việc USCIRF không đánh giá đúng bối cảnh vụ việc Đắk Lắk (2023) là một vụ tấn công vũ trang gây thiệt hại sinh mạng và an ninh, mà chỉ tập trung vào cáo buộc “vi phạm tự do tôn giáo”, không phân biệt rõ đâu là hành vi tôn giáo, đâu là hành vi phạm tội hình sự.

4. Kết luận

Báo cáo của USCIRF năm 2025 đưa ra thông tin rằng Việt Nam có những vi phạm đối với quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, thông qua phân tích pháp lý, đối chiếu thực tiễn và tham chiếu với luật pháp hiện hành, có thể thấy nhiều lập luận trong Báo cáo là không khách quan, thiếu cơ sở dữ liệu xác thực và không phản ánh đúng thực tế tình hình tôn giáo tại Việt Nam.

Việt Nam hiện là quốc gia có hệ thống pháp luật quy định rõ ràng, công khai về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, được bảo đảm trong Hiến pháp và các văn bản luật liên quan. Các hình thức quản lý hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng như đăng ký sinh hoạt, đăng ký hoạt động, khuyến khích minh bạch tài chính, quy định địa điểm sinh hoạt tôn giáo… là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Việc USCIRF “áp đặt” các khuyến nghị mang tính chính trị hóa, thiếu tinh thần đối thoại có nguy cơ phá vỡ nền tảng hợp tác song phương vốn đang tiến triển tích cực giữa hai nước, đặc biệt trong bối cảnh quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Mỹ được thiết lập.

USCIRF cần thay đổi cách tiếp cận đối với Việt Nam. Việt Nam sẵn sàng trao đổi với các tổ chức quốc tế, các tổ chức tôn giáo và các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ, để cùng hướng tới việc bảo đảm tốt hơn các quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo./.


[1] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình lý luận và pháp luật quyền con người. Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.84.

[2, 5, 9, 11, 14, 15] United States Commission on International Religious Freedom (2025): Annual Report, pp. 42, 43.

[3] United States Commission on International Religious Freedom (viết tắt là USCIRF) là một Ủy ban của Chính phủ liên bang Hoa Kỳ được thành lập theo Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế (IRFA) năm 1998. Các Ủy viên USCIRF được Tổng thống và lãnh đạo của cả hai đảng phái chính trị tại Thượng viện và Hạ viện bổ nhiệm. Trách nhiệm chính của USCIRF là xem xét các sự kiện và hoàn cảnh vi phạm quyền tự do tôn giáo trên phạm vi quốc tế và đưa ra các khuyến nghị về chính sách cho Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc hội.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.113.

[6] Có thể xem thông tin về nhân vật này trên website: https://bocongan.gov.vn/bai-viet/xet-xu-bi-cao-y-krec-bya-ve-toi-pha-hoai-chinh-sach-doan-ket-d22-t38329

[7] Có thể xem thông tin về nhân vật này trên website: https://tuoitre.vn/phat-bi-cao-loi-dung-cac-quyen-tu-do-dan-chu-4-nam-6-thang-tu-2024012610082735.htm

[8] https://cand.com.vn/Ban-tin-113/loi-dung-cac-quyen-tu-do-dan-chu-2-bi-cao-linh-an-tu-i725831/

[10] Hiến Pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), khoản 2, điều 14.

[12] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 4, tr 8.

[13] Đỗ Quang Hưng (2002), Hồ Chí Minh và nền tảng luật pháp tôn giáo nước ta, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3, tr.8.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    Tự do tôn giáo ở Việt Nam - USCIRF cần thiện chí, khách quan trong đánh giá
    • Mặc định
    trống đồng