Tinh gọn bộ máy: Bước đột phá chiến lược để Việt Nam vươn mình
Trong kỷ nguyên mới, tinh gọn bộ máy, đổi mới thể chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước là đột phá chiến lược đưa Việt Nam phát triển bền vững.

1. Tinh gọn là quy luật khách quan để đạt được mục tiêu phát triển đất nước
Trước thực trạng nhức nhối và những thách thức mang tính sống còn đó, việc hoạch định và thực thi quyết liệt chủ trương tinh gọn bộ máy hoàn toàn không phải là một chiến dịch hành chính ngắn hạn mang tính phong trào; càng không phải là “ý chí chủ quan”, áp đặt như những luận điệu xuyên tạc thường rêu rao[1].
Ngược lại, đây là một quy luật phát triển khách quan, tất yếu, một đòi hỏi cấp bách mang tính thời đại đối với bất kỳ một quốc gia nào muốn duy trì năng lực cạnh tranh toàn cầu. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rất sớm và sâu sắc về quy luật này. Ngay từ Đại hội VI (12/1986), Đảng đã xác định đổi mới kinh tế phải đi liền với đổi mới bộ máy nhà nước. Gần đây nhất, Hội nghị Trung ương 6, Khóa XII (năm 2017) đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.
Từ Nghị quyết 18-NQ/TW, trong giai đoạn 2015 - 2023 đã tinh biên chế 84.140 người, trong đó ở Trung ương là 5.740 người, ở địa phương là 78.400 người[2]. Sự rút gọn bước đầu này đã lập tức mang lại hiệu quả thực tế: hiệu suất giải quyết các thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công tại nhiều cơ quan đã tăng thêm khoảng 30%[3].
Trên bình diện quốc tế, xu hướng tái cấu trúc nhà nước hướng tới việc thiết lập một mô hình hành chính tinh gọn, linh hoạt theo triết lý “Quản lý công mới” (New Public Management) đang diễn ra hết sức mạnh mẽ ở hầu hết các nền kinh tế phát triển và đang phát triển.
Trung Quốc, một quốc gia có quy mô dân số và lãnh thổ khổng lồ, từng có những giai đoạn lịch sử phải chi trả tới hơn 30% tổng ngân sách quốc gia chỉ để duy trì bộ máy hành chính. Nhận thức được tính thiếu bền vững của hệ thống này, họ đã tiến hành nhiều đợt cải cách quyết liệt, cắt giảm triệt để các tầng nấc trung gian, giúp bộ máy quốc gia hoạt động hiệu quả, kiến tạo mạnh mẽ hơn cho nền kinh tế.
Nhật Bản, một nền hành chính vốn nổi tiếng là truyền thống và bảo thủ, cũng đã thực hiện cuộc đại cải tổ vào năm 2001, cắt giảm một nửa số lượng các bộ ngành cấp trung ương, từ 23 bộ xuống chỉ còn 12 bộ, qua đó giải phóng một nguồn lực khổng lồ để đối phó với tình trạng già hóa dân số và đình trệ kinh tế.
Gần đây nhất, vào ngày 16/2/2025, chính quyền Hoa Kỳ cũng đã khởi động một kế hoạch cải tổ hành chính quy mô lớn bằng việc cắt giảm lập tức hơn 9.500 nhân viên liên bang, đồng thời đặt ra mục tiêu đầy tham vọng là tiếp tục cắt giảm tới 75% biên chế bộ máy để giảm bớt gánh nặng nợ công và nâng cao hiệu suất thực thi chính sách.
Theo quy luật biện chứng, khi lực lượng sản xuất xã hội (bao gồm trình độ công nghệ, năng lực của người lao động, các mô hình kinh doanh mới) không ngừng phát triển mạnh mẽ và đột phá dưới tác động của kỷ nguyên số, thì hệ thống quản lý, điều hành quốc gia (thể hiện qua quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng) bắt buộc phải tự “vươn mình” thay đổi, cải tổ để tương thích[4]. Nếu bộ máy nhà nước chậm chạp, bảo thủ, từ chối cải cách, nó sẽ tự biến mình thành những xiềng xích, lực cản kìm hãm sự phát triển của chính đất nước đó.
Do vậy, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy tại Việt Nam lúc này chính là điều kiện tiền đề, là trọng điểm chiến lược mang tính sống còn. Quá trình phẫu thuật cấu trúc này sẽ trực tiếp giải phóng sức lao động, tri thức, kỹ thuật và mở đường cho công nghệ thông tin thẩm thấu vào quy trình quản trị, đảm bảo Việt Nam không những không bị bỏ lại phía sau, mà ngược lại, tạo ra một bệ phóng động năng khổng lồ để bứt tốc, hoàn thành trọn vẹn và đúng hạn các mục tiêu chiến lược của “tầm nhìn trăm năm” vào năm 2030 và 2045.
2. Một số kết quả đột phá từ cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đạt nhiều kết quả mang tính đột phá. Hệ thống tổ chức các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội được tổ chức lại theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; kết thúc hoạt động mô hình Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng từ Trung ương đến địa phương. Cụ thể, đã giảm 4 cơ quan Đảng Trung ương, 5 cơ quan Quốc hội, 5 bộ, 3 cơ quan thuộc Chính phủ, 13 tổng cục và tương đương, gần 1.500 đầu mối cấp vụ và hơn 4.800 đầu mối cấp phòng; Giảm 29 tỉnh, thành phố, không tổ chức mô hình cấp huyện và giảm gần 700 huyện. Điều chỉnh sáp nhập từ hơn 10.000 xuống còn 3.321 xã, phường (giảm khoảng 6.700 xã, phường)[1].
Tinh giản gần 150.000 cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thông qua chính sách hỗ trợ vượt trội. Đã sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình mới, tổ chức lại hệ thống Quân đội, Công an ở địa phương, Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, các cơ quan, đơn vị quản lý theo ngành dọc. Sắp xếp tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương đồng bộ với tổ chức hành chính[2].
Để chủ trương, chính sách đi vào thực tiễn, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể như các nghị quyết, kết luận, quy định, quyết định và hơn 70 văn bản chỉ đạo các loại của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã được ban hành và triển khai sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính trong năm 2025.
Hệ thống các văn bản mới ban hành cơ bản bảo đảm đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý để thực hiện sắp xếp kịp thời, bảo đảm không trùng giẫm, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, theo hướng đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các cấp cơ sở; bảo đảm giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra các vấn đề phức tạp trước, trong và sau khi thực hiện sáp nhập, vận hành tổ chức bộ máy mới.
Việc sắp xếp tinh gọn không chỉ giảm số lượng về tổ chức, đơn vị, giảm biên chế, giảm kinh phí chi thường xuyên mà quan trọng hơn là đã nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy, giảm tầng nấc trung gian, phân cấp phân quyền được đẩy mạnh theo hướng gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân tốt hơn; đã mở ra không gian, khơi thông nguồn lực, tạo dư địa để phát triển kinh tế-xã hội cho giai đoạn tiếp theo.
Kiên định, giữ vững các nguyên tắc của Đảng, thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, tập trung giải quyết những nút thắt, vướng mắc, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nguồn lực để thực hiện. Làm tốt công tác dự báo trên cơ sở tổng kết thực tiễn, bám sát bối cảnh trong nước, quốc tế, nhất là dự báo về những khó khăn, thách thức; có chiến lược định hướng, tầm nhìn dài hạn, có kế hoạch thực hiện cụ thể, khả thi, đồng bộ, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội.
Công tác tổ chức triển khai thực hiện được nghiêm túc, quyết liệt với tinh thần trách nhiệm cao nhất, có sự chủ động, linh hoạt trong sáng tạo, triển khai từ trên xuống dưới, Trung ương làm gương, địa phương hưởng ứng; không chủ quan nóng vội nhưng cũng không cầu toàn với phương châm vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kịp thời chuyển đổi trạng thái từ “vừa chạy vừa xếp hàng” sang “thẳng hàng lối thông, đồng lòng cùng tiến”. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Đây là bài học kinh nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xu hướng phát triển mới, qua đó khắc phục được khâu yếu về tổ chức thực hiện trước đây.
3. Một số yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là công việc thường xuyên, phải thực hiện một cách nghiêm túc, bài bản, khoa học gắn với quyết tâm chính trị cao.
Tuyên truyền để thống nhất nhận thức, trách nhiệm mọi người cùng hiểu rõ mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương. Đảng ta luôn yêu cầu mở rộng dân chủ, phát huy dân chủ nhưng cần thống nhất nhận thức giữa tập trung và dân chủ; tránh cách hiểu phiến diện về dân chủ, nhất là thực hành dân chủ trong Đảng.
Thứ hai, tiếp tục phát huy bài học mà Đảng ta đã rút ra trong công cuộc đổi mới: “… trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải xứng đáng là “công bộc” của dân. Đại biểu dân cử phải là đại diện xứng đáng với những cử tri đã bầu ra mình. Họ là những người được cử tri ủy thác trách nhiệm đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân. Điều đó có nghĩa là đại biểu đại diện cho Nhân dân tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia. Đại biểu phải căn cứ vào ý chí và nguyện vọng của Nhân dân để quyết định mọi vấn đề trong công việc. Trường hợp ý kiến và lợi ích cá nhân hoặc nhóm lợi ích (trong đó có mình) ngược với lợi ích quốc gia, dân tộc, ngược với ý chí, nguyện vọng của Nhân dân thì đại biểu phải thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân chứ không phải ý kiến cá nhân.
Thứ ba, về phía Nhà nước: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc Nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của Nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên”. Cùng với đó, cần có cơ chế để bảo vệ những người trung thực, dũng cảm dám đấu tranh vì cái chung.
4. Kết luận
Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc cũng đặt ra yêu cầu cấp bách thực hiện quyết liệt cuộc cách mạng nhằm xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới. Thực hiện thành công cuộc cách mạng này chính là tiền đề để Việt Nam hiện thực hóa ước nguyện xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.
[1] Hà Lê, Tinh gọn bộ máy – chìa khóa chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình (https://vneconomy.vn/tinh-gon-bo-may-chia-khoa-chien-luoc-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-vuon-minh.htm)
[2] https://vneconomy.vn/tinh-gon-bo-may-chia-khoa-chien-luoc-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-vuon-minh.htm
[1] Lê Xuân Tiến, Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy - Bước ngoặt lịch sử và tầm nhìn chiến lược (https://baohaiquanvietnam.vn/tin-tuc/cuoc-cach-mang-tinh-gon-bo-may-buoc-ngoat-lich-su-va-tam-nhin-chien-luoc)
[2] Báo cáo số 7605/BC-BNV, ngày 25/12/2023 của Bộ Nội vụ về tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2023.
[3] Báo cáo số 7605/BC-BNV, ngày 25/12/2023 của Bộ Nội vụ về tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2023.
[4] C. Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn tập (tập 13) - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.


