Việt Nam kỷ nguyên mới

Tính chủ thể của Việt Nam trong tiếp biến văn hóa qua tư liệu Hán Nôm

Hằng Phương • 11/09/2026 06:21

Tư liệu gốc Hán Nôm cho thấy, Việt Nam đã chủ động tiếp biến văn hóa, thậm chí là “sáng tân” văn hóa, giữ vai trò chủ thể trong quá trình tiếp biến, bảo tồn bản sắc dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử.

Việt Nam luôn giữ vững tính chủ thể trong quá trình tiếp biến văn hóa suốt chiều dài lịch sử dân tộc với không gian và sự tác động đa chiều mạnh mẽ. Lịch sử dân tộc có thời kỳ Nho giáo và các yếu tố văn hóa Hán chi phối đáng kể cả trong tư tưởng và thiết chế xã hội. Sự ảnh hưởng này dẫn đến một số quan điểm cho rằng Việt Nam chỉ là “một biến thể của văn minh Trung Hoa”, thậm chí, một nghiên cứu về Việt Nam của Joseph Buttinger đã coi Việt Nam là “con rồng nhỏ hơn” - trong mối sao chép văn hóa từ “con rồng lớn hơn” là Trung Quốc, và đã dùng chính nhận định đó để đặt tên cho công trình của mình[0]. Tuy nhiên, quá trình giao lưu, tiếp biến chịu tác động mạnh từ ngoại lực đến mấy thì cũng không thể lu mờ bản sắc nội lực dân tộc với cố kết cộng đồng vững chắc của Việt Nam. Cách nhìn của Joseph Buttinger không chỉ làm giản hóa quá trình giao lưu - tiếp biến văn hóa, mà còn bỏ qua đặc điểm quan trọng nhất của Việt Nam: Khả năng dung hợp và tái cấu trúc các yếu tố ngoại lai.

Các nghiên cứu dựa trên tư liệu Hán Nôm, đặc biệt là văn bản làng xã, cho thấy các yếu tố Nho giáo khi được tiếp nhận vào Việt Nam không chỉ trải qua quá trình cách tân sâu sắc mà trong nhiều trường hợp còn được “sáng tân”, tức được tái cấu trúc và sáng tạo thành những thiết chế, phong tục mang tính độc hữu của Việt Nam. Nhận định này có thể được làm rõ thông qua một số trường hợp tiêu biểu trong đời sống văn hóa làng xã, gồm: hệ thống tiết lễ hằng năm, tục thờ Hậu, hội Tư văn và thiết chế văn từ, văn chỉ.

1. Tính chủ thể trong các tiết lễ

Khảo sát hệ thống văn bản hương ước và tục lệ về lễ nghi tế tự cho thấy: Các tiết lễ được cử hành thường niên tại làng xã tuy sử dụng thuật ngữ Nho gia, nhưng đối tượng thờ phụng lẫn phương thức thực hành lại mang đậm đặc dấu ấn bản địa.

Minh chứng định lượng từ kết quả khảo sát 113 văn bản tục lệ tỉnh Hà Đông (giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX) cho thấy, trong tổng số 52 tiết lễ được ghi nhận: chỉ 9/52 tiết (17,3%) rõ ràng là ngoại lai; 4/52 tiết (7,69%) ở trạng thái lưỡng khả (giao thoa giữa yếu tố ngoại lai và bản địa); 5/52 tiết (9,61%) không mang bản chất của tiết lễ. Chiếm tỷ lệ áp đảo tuyệt đối là 34/52 tiết (tương đương 65,38%) thuộc về lễ tiết bản địa[1].

Những chỉ số thống kê này là minh chứng chứng tỏ rằng dù Việt Nam chịu ảnh hưởng định hình từ văn hóa Hán trên tầng nền thiết chế chính thống, nhưng yếu tố bản địa - ít nhất là trong không gian tế tự làng xã - không chỉ giữ vị thế chủ đạo mà còn tạo nên một cấu trúc áp đảo. Tại không gian văn hóa cơ sở, tín ngưỡng dân gian vẫn luôn là hệ trục cốt lõi, chi phối toàn diện đời sống tâm linh nói chung và các hành vi thực hành tế tự nói riêng.

2. Tính chủ thể qua tục thờ Hậu

Có thể khẳng định, thờ cúng tổ tiên là phong tục phổ biến trên phạm vi toàn cầu, ở những sắc thái khác nhau. Tục thờ Hậu ở Việt Nam cũng xuất phát từ phong tục đó và nhiều yếu tố khác: tục cúng dường của Phật giáo, đạo Hiếu của Nho giáo, v.v.

Như đã biết, đạo Phật và Nho giáo ảnh hưởng tới rất nhiều quốc gia, tuy nhiên, tục thờ cúng này chỉ được sinh ra và phát triển ở Việt Nam[2]. Thực tế cho thấy, dù các khái niệm như “thờ Hậu”, “bầu Hậu”, “Hậu Thần”, “Hậu Phật”, hay “Hậu Hiền” là những thuật ngữ rất phổ biến, định hình sâu sắc trong đời sống làng xã Việt Nam cổ truyền, nhưng chúng lại hoàn toàn vắng bóng trong hệ thống từ điển đại từ thư lẫn lịch sử thực hành phong tục của Trung Quốc. Sự lệch pha mang tính bản chất này là một minh chứng rõ ràng, khẳng định tính độc hữu, tự chủ và năng lực “sáng tân” hoàn toàn của văn hóa Việt Nam.

Một số nghiên cứu của học giả nước ngoài có xu hướng cho rằng tục thờ Hậu của Việt Nam chính là sự học hỏi văn hóa “sinh từ” của Trung Quốc[3]. Tuy nhiên, từ các tư liệu gốc là bia Hậu hay những tờ “đơn bầu Hậu” (văn bản mang tính chất giao kèo/hợp đồng giữa bên cung tiến và bên nhận cung tiến), có thể khẳng định rằng, tục thờ Hậu của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở của mối quan hệ giữa cung tiến (người cung tiến) và báo đền (làng xã hoặc các tổ chức trong làng xã), hoàn toàn khác với mối quan hệ một chiều (dân chúng thờ quan lại có công) ở Trung Quốc[4].

3. Tính chủ thể qua Hội Tư văn

“Tư văn” được xuất hiện lần đầu tiên trong Luận ngữ của Khổng tử, với ý chỉ “lễ nhạc giáo hóa” do Chu Văn vương khai sáng. Về sau, “Tư văn” có thêm nhiều nghĩa phái sinh, như: Nho học, Nho sĩ, văn nhã, v.v. Cho dù mang nghĩa nào đi nữa, từ này cũng dùng để chỉ những “sản phẩm” theo tiêu chuẩn Nho học.

“Hội Tư văn” không xuất hiện trong các từ điển Hán ngữ, hay nói cách khác, tổ chức này chưa bao giờ có mặt tại Trung Quốc - quê hương của “Tư văn”. Thế nhưng Hội Tư văn lại là một tổ chức khá quen thuộc trong làng xã Việt Nam, đặc biệt là khu vực phía Bắc. Tên gọi của Hội đã nói lên thành phần cũng như sự kỳ vọng đối với các thành viên của Hội, như những lời bộc bạch sau đây: “Văn là vật quý ở trên đời, được coi trọng vậy. Sự thịnh suy của Tư văn liên quan đến sự thịnh suy của vận nước. Trên từ triều đình, dưới xuống đến hương đảng chưa từng không coi trọng Tư văn, [Tư văn] cũng là chỗ sinh ra lễ nghĩa mà làm ngay ngắn tốt đẹp phong tục vậy”[5]. Như vậy, từ buổi đầu, Hội Tư văn đã được xác định là nơi tập hợp của những thành phần có kiến thức về Nho học trong làng xã, với trách nhiệm cao cả là “dùng lễ nghĩa” để chỉnh đốn hương phong.

Để được gia nhập tổ chức này, các thành viên phải đáp ứng đầy đủ hệ tiêu chí khắt khe theo chế định riêng của từng làng, đồng thời hoàn thành một nghĩa vụ mang tính chế thức bắt buộc là “khao vọng” (bằng hình thức thiết đãi yến tiệc hoặc cung nạp tiền tài tùy theo lệ làng).

Tư liệu tục lệ minh chứng rằng, hội Tư văn luôn nắm giữ vai trò chủ chốt và độc quyền trong hoạt động nghi lễ: từ các đại tế tối nghiêm của cộng đồng như ngày sinh, ngày hóa của Thành hoàng, cho đến hệ thống tiết lễ định kỳ và cả các nghi thức hộ niệm mang tính tư gia thuộc phạm vi tang chế.

Chính cấu trúc chức năng này đã xác lập vị thế tôn nghiêm đặc biệt của hội Tư văn trong cấu trúc xã hội nông thôn Việt Nam truyền thống. Không chỉ tham gia điều hành tế tự cho làng xã hay tư gia, hội Tư văn còn thực hành các điển lễ biệt đãi riêng tại văn từ, văn chỉ - không gian thờ tự của chính hội. Đây là những thiết chế kiến trúc tâm linh độc hữu của Việt Nam, hoàn toàn vắng bóng trong không gian văn hóa của bất kỳ quốc gia nào khác thuộc thế giới đồng văn.

4. Tính chủ thể qua hệ thống văn từ, văn chỉ

Tính bản địa của thiết chế văn từ, văn chỉ

Văn từ, văn chỉ, còn được gọi là văn đàn, từ chỉ v.v., được dựng nên để thờ Tiên Thánh, Tiên hiền và những người đỗ đạt. Vì đối tượng thờ cúng đều xuất phát từ ảnh hưởng của Nho giáo, nên nhiều người, thậm chí ngay cả những nhà dân tộc học giàu kinh nghiệm cũng lầm tưởng đó là sự kế thừa từ văn hóa truyền thống Trung Quốc[6].

Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu nguồn gốc của kiến trúc thờ tự này, có thể khẳng định rằng, đây là cơ sở thờ tự độc hữu của Việt Nam, hoàn toàn không xuất hiện ở Trung Quốc hay bất kỳ quốc gia nào chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho gia.

Văn chỉ làng Hữu Bằng, xã Quang Trung, thành phố Hà Nội - Bằng chứng cho tính chủ thể của Việt Nam trong tiếp biến văn hóa
Văn chỉ làng Hữu Bằng, xã Quang Trung, thành phố Hà Nội - Bằng chứng cho tính chủ thể của Việt Nam trong tiếp biến văn hóa (Ảnh: Bùi Xuân Đính)

“Văn từ”, “văn chỉ”, hay “văn đàn”, “từ chỉ”, v.v. đều không thấy được ghi nhận trong các từ điển của Trung Quốc. Tuy nhiên, kết quả tìm kiếm trên internet cho thấy có một di tích được gọi là “Văn từ” được giới thiệu trong Trang thông tin điện tử Triều Châu. Đó là Am Phụ văn từ (庵埠文祠) ở Triều Châu (Trung Quốc) thờ Văn Xương Đế Quân và Khổng tử[7]. Hiện không rõ phạm vi thờ tự ban đầu của Am Phụ văn từ là ở cấp nào, nhưng xét về đối tượng thờ cúng thì nơi đây vừa thờ Khổng tử, vừa thờ Văn Xương đế quân, tức là hỗn tự Nho Đạo, chứ không phải là công trình thờ tự riêng Nho giáo. Tên công trình kiến trúc không có trong từ điển Trung Quốc, trên thực địa tuy có, nhưng rất hiếm gặp, đối tượng thờ cúng lại là một sự hỗn dung Nho Đạo[8]. Trong khi đó, văn từ văn chỉ ở Việt Nam hoàn toàn không liên quan đến Đạo giáo, hơn thế, các cơ sở thờ tự này còn thể hiện rõ tính bản địa qua đối tượng thờ cúng và các lễ tiết trong năm.

Tính chủ động trong tiếp biến và bản địa hóa Nho giáo qua văn từ, văn chỉ

Về đối tượng thờ cúng, ngoài Tiên Thánh và Tiên hiền theo truyền thống Nho giáo, văn từ, văn chỉ ở Việt Nam còn phối thờ Chu Văn An và những người đỗ đạt của chính địa phương. Ở một số làng, tuy không phổ biến, còn phối thờ cả những người đỗ đạt trong cùng tổng hoặc các thầy đồ không còn người hương khói. Cách thức thờ tự này phản ánh sâu sắc truyền thống tôn sư trọng đạo và tinh thần khuyến học của cộng đồng làng xã Việt Nam. Quan trọng hơn, nó cho thấy các yếu tố Nho giáo khi được tiếp nhận vào Việt Nam đã được tái cấu trúc theo nhu cầu và giá trị của cộng đồng bản địa, từ đó hình thành nên một thiết chế thờ tự mang diện mạo riêng có, đậm bản sắc Việt Nam.

Không chỉ dừng lại ở việc kiến tạo những thiết chế văn hóa mang diện mạo riêng, tinh thần tự chủ còn thẩm thấu sâu vào đời sống thường nhật, biến các lý thuyết xa lạ thành những chuẩn mực đạo đức gần gũi với xã hội Việt Nam. Các nghi lễ gia đình, quy tắc ứng xử và chuẩn mực luân lý trong quá trình tiếp biến đã được bản địa hóa sáng tạo, chủ động, phù hợp với tâm lý, tập quán và nền tảng văn hóa Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu trên gặp gỡ, tương đồng với nhiều kết quả nghiên cứu và quan điểm của các học giả trong nước và quốc tế. Theo học giả người Pháp là Maurice Durand và Pierre Huard: “Mối quan tâm thường xuyên mà văn hóa Việt Nam chỉ ra qua nhiều thế kỷ là không thu nhận bất cứ yếu tố bên ngoài nào (Ấn Độ, Trung Hoa hay phương Tây) mà không tìm cách bắt yếu tố đó chấp nhận dấu ấn văn hóa bản địa riêng, điều này đảm bảo rằng nền văn hóa đó đủ sự cố kết bền chặt để chống chọi với các sức ép từ bên ngoài và để tiếp tục biểu thị mối quan hệ rất đặc thù mà nó xây dựng giữa ba thế lực của tự nhiên (tam tài): Thiên, Địa, Nhân”[9].

5. Định vị Việt Nam trong không gian văn hóa khu vực và trong kỷ nguyên số

Từ những chứng cứ trong các tư liệu cổ, có thể định vị Việt Nam trong bối cảnh so sánh khu vực Đông Á. Khi so sánh với Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc, có thể thấy rằng mặc dù cùng chịu ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng Việt Nam phát triển mô hình xã hội riêng biệt, ưu tiên tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao. Chính đặc điểm này cho phép Việt Nam duy trì bản sắc riêng trong quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số về tư liệu Hán Nôm có khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ cao, giải mã các bản tục lệ cổ sẽ giúp khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc, qua đó công bố rộng rãi những minh chứng xác thực về chủ quyền văn hóa và sự thống nhất của dân tộc, góp phần ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc trên môi trường mạng.

Việc làm rõ và khẳng định những đặc điểm đặc thù của xã hội truyền thống góp phần củng cố nhận thức khoa học về lịch sử dân tộc, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho niềm tin của xã hội; đồng thời khẳng định tính chính danh của con đường phát triển xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, vốn được xây dựng trên sự kế thừa sâu sắc và phát triển những giá trị truyền thống, bản sắc của dân tộc kết hợp với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại./.


[1] Đào Phương Chi và cộng sự (2022), Nghiên cứu phong tục tế tự trong làng xã Việt Nam qua văn bản tục lệ Hán Nôm tỉnh Hà Đông, Nhiệm vụ Cấp Bộ 2021-2022, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, tr. 16-17.

[2] Xem thêm: Philippe Papin, Nguyễn Tuấn Cường, Hoàng Anh Tuấn (chủ trì) (2024 - 2025), Tùng thư bia Hậu Việt Nam. https://revues.vietnamica.online/publications.../vi/livres/; Đào Phương Chi (2022), “Nguồn gốc, cấp quản lý và hoạt động tế tự tại văn từ, văn chỉ: Nhìn từ tư liệu tục lệ Hán Nôm tỉnh Hà Đông”, Tạp chí Hán Nôm, số 5/2022.

[3] Chẳng hạn: 林珊妏 (2013), 越南黎忠義「生祠」及「後神」碑銘研究, 東吳中文學報 第二十六期,台灣,124頁。

[4] Nguyễn Văn Nguyên (2024), Hoạt động cung tiến và lệ bầu Hậu, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr. 324-335.

[5] Tục lệ hai thôn Kiều Mai, Nguyên Xá (trong 河東省慈廉縣古芮總各社村券例Hà Đông tỉnh Từ Liêm huyện Cổ Nhuế tổng các xã thôn khoán lệ), định bản năm 1845, ký hiệu AF.a2/55, tờ 38ª.

[6] Bùi Xuân Đính (2021), Bách khoa thư Làng Việt cổ truyền, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 688-689.

[7] http://www.chaozhou.gov.cn/zjcz/czly/jqjd/content/post_3427389.html#

[8] Đào Phương Chi (2022), “Nguồn gốc, cấp quản lý và hoạt động tế tự tại văn từ, văn chỉ: Nhìn từ tư liệu tục lệ Hán Nôm tỉnh Hà Đông”, Tạp chí Hán Nôm, số 3/2022, tr. 17.

[9] Maurice Durand và Pierre Huard (2025), Tri thức văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 16.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    Tính chủ thể của Việt Nam trong tiếp biến văn hóa qua tư liệu Hán Nôm
    • Mặc định
    trống đồng