Trao đổi

THỰC TẾ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM: BẰNG CHỨNG BÁC BỎ MỌI XUYÊN TẠC

Kim Sơn 07/08/2026 14:11

USCIRF đưa ra các nhận định về tự do tôn giáo ở Việt Nam mang nhiều tính chủ quan, áp đặt và thiếu thiện chí.

Việt Nam là quốc gia thành viên của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), nên có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều này được thể hiện trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam, như Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng như Nghị định 162/2017/NĐ-CP, sau được thay thế bằng Nghị định 95/2023/NĐ-CP. Đời sống tôn giáo của người dân được Nhà nước bảo đảm. Vì vậy, việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam vừa là nghĩa vụ pháp lý trong nước, vừa là cam kết quốc tế có tính ràng buộc.

Tuy nhiên, theo Báo cáo thường niên năm 2025 (United States Commission on International Religious Freedom 2025), USCIRF cho rằng, Việt Nam vi phạm quyền tự do tôn giáo. Họ liệt kê Việt Nam vào những quốc gia cần quan tâm đặc biệt về lĩnh vực này. Đây là sự quy kết mang nhiều tính chủ quan, áp đặt và thiếu thiện chí.

1. Tính nhất quán trong đường lối lãnh đạo của Việt Nam về quyền con người

bac ho 3-9 đoàn kết tôn giáo
https://www.qdnd.vn/tu-lieu-ho-so/ngay-nay-nam-xua/3-9-1945-bac-ho-khang-dinh-tin-nguong-tu-do-va-luong-giao-doan-ket-670269

Nhìn lại lịch sử, sau khi nước Việt Nam giành độc lập, một ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Người đã đề nghị “Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”[1]. Tiếp đó, các bản Hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa những năm 1946, Điều 10 đã ghi nhận quyền con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng. Như vậy, trước khi có Tuyên ngôn năm 1948 về quyền con người, Hiến pháp Việt Nam đã ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, mà diễn ngôn khi ấy được hiểu bao gồm cả tự do tôn giáo là một trong những quyền quan trọng đó. Các bản Hiến pháp bổ sung và sửa đổi vào các năm tiếp theo đến nay đều nhất quán tư tưởng này.

Điều 24 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hướng tới giải quyết các vấn đề mới nảy sinh giữa các quốc gia, từ Đại hội X (2006), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam”[2].

Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó nhiều quan điểm về tôn trọng, bảo vệ quyền con người được tổng kết, như: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”[3]. Đại hội XII của Đảng (2016) đã tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ: “thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013... tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”[4]. Đến Đại hội XIV, Đảng tiếp tục khẳng định “lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”[5].

Hiện nay, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) và Nghị định 95/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể về quyền đăng ký sinh hoạt tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo, bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Các điều khoản này không phân biệt tôn giáo lớn hay nhỏ, người dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, mà hướng tới quản lý nhà nước minh bạch, công bằng, và phù hợp với lợi ích chung. Chính phủ khuyến khích đăng ký tự nguyện để phân biệt giữa thực hành tôn giáo thuần túy theo nhu cầu tinh thần của nhân dân và các nhóm lợi dụng tôn giáo để gây rối.

Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một giá trị được xác lập ở Việt Nam chủ trương nhất quán xuyên suốt chứ không phải là một vấn đề mới.

2. Quan điểm phiến diện trong Báo cáo thường niên năm 2025 của USCIRF

2.1. Về việc Báo cáo của USCIRF cho rằng Việt Nam sử dụng công cụ pháp lý để kiểm soát tôn giáo là thiếu thiện chí

Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã quy định cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người (Điều 6); quyền của tổ chức tôn giáo, tôn giáo trực thuộc (Điều 7); quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam (Điều 8); nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 9); các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên mang tính toàn diện, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng và minh bạch cho việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là văn bản pháp lý cụ thể hóa các nội dung về quyền con người trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật xác định quyền tự do tín ngưỡng và cụ thể hóa các quyền như: thành lập tổ chức, xây dựng cơ sở thờ tự, xuất bản kinh sách, mở trường đào tạo tôn giáo, tổ chức lễ hội,…

Tiếp theo cụ thể hóa việc thực hiện luật này, Nghị định 95/2023/NĐ-CP ra đời đã đơn giản hóa, hợp lý hóa thủ tục hành chính, tăng cường giám sát nhưng vẫn bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo. Từ khi Luật và Nghị định có hiệu lực, hàng trăm tổ chức tôn giáo và hàng nghìn điểm nhóm đã được công nhận, đăng ký sinh hoạt ổn định trên khắp cả nước.

Báo cáo của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Mỹ cho rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định 95/2023/NĐ-CP với lý do để kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tôn giáo[6]. Điều này thật gượng ép và không chính xác, vì Việt Nam quản lý hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng theo pháp luật. Tất cả luật đều công khai và được Quốc hội thông qua, Chính phủ thực thi và được các cơ quan chứng năng và nhân dân giám sát. Báo cáo USCIRF cho rằng các thủ tục hành chính như đăng ký, báo cáo thay đổi nhân sự, cung cấp hồ sơ tài chính là sự gây khó khăn, trở ngại của Việt Nam với các tổ chức tôn giáo. Trên thực tế những quy định này là nhằm đảm bảo minh bạch và trách nhiệm pháp lý. Hơn nữa, Nghị định 95/2023 so với Nghị định 162/2017/NĐ-CP trước đó đã đơn giản hóa quy trình, thúc đẩy số hóa thủ tục hành chính, chứ không phải là công cụ 'đàn áp' như phía Mỹ cáo buộc[7].

2.2. Về việc Báo cáo cho rằng Việt Nam bắt giữ và đối xử sai trái với cá nhân tôn giáo là thiếu căn cứ

USCIRF dẫn nhiều trường hợp (như Y Krec Bya[8], Nay Y Blang[9], Thạch Cương, Tô Hoàng Chương[10], …) cho rằng, các cá nhân này bị bắt vì liên quan đến các hoạt động tôn giáo hoặc vận động cho tự do tôn giáo[11]. Việt Nam khẳng định các vụ việc trên là do các đối tượng vi phạm pháp luật với các nội dung như kích động chia rẽ dân tộc hoặc tuyên truyền chống nhà nước, chứ không phải bị bắt và tuyên án vì lý do thực hành tín ngưỡng, tôn giáo. Điều này hoàn toàn đúng với quy định của luật pháp Việt Nam hiện hành.

Hiến pháp 2013 đã đưa ra quy định cụ thể về việc quyền con người và quyền công dân có thể bị giới hạn, với điều kiện là sự hạn chế đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người. Cụ thể, khoản 2 Điều 14 nêu rõ: chỉ trong những trường hợp cần thiết như bảo vệ quốc phòng, an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, thuần phong mỹ tục và sức khỏe cộng đồng, thì quyền con người và quyền công dân mới được phép bị hạn chế theo quy định của pháp luật[12]. Quy định này không chỉ nhằm bảo đảm rằng, các cơ quan nhà nước không tùy tiện can thiệp, xâm phạm các quyền cơ bản của công dân, mà còn góp phần ngăn chặn việc lợi dụng danh nghĩa quyền con người để tiến hành các hành vi gây phương hại đến lợi ích chung của quốc gia và xã hội.

Mặt khác, theo văn bản pháp luật hiện hành tại Việt Nam, không có văn bản và điều khoản nào quy định việc công dân Việt Nam bị truy tố vì niềm tin tôn giáo. Hệ thống tư pháp bảo đảm xét xử công bằng và USCIRF không đưa ra được bằng chứng cho thấy quá trình tố tụng bị vi phạm. Không chỉ riêng với Việt Nam, đây là các trường hợp xử lý hành vi cực đoan mang vỏ bọc tôn giáo, mà nhiều quốc gia khác cũng phải đối mặt.

2.3. Về việc Báo cáo cho rằng Việt Nam cưỡng bức các nhóm tôn giáo dân tộc thiểu số là thiếu căn cứ

Theo Báo cáo USCIRF, một số tín đồ Tin lành tại Tây Nguyên và Tây Bắc tiếp tục bị đàn áp nặng nề, bao gồm bắt giữ, giam cầm, tra tấn và ép buộc từ bỏ đức tin[13]. Đây là nội dung báo cáo thiếu căn cứ, sai sự thật.

Việt Nam hoàn toàn không có điều khoản pháp luật cho phép cơ quan công quyền cưỡng ép cá nhân từ bỏ niềm tin tôn giáo. Ngược lại, Điều 5 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo nghiêm cấm “lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ nhân dân, dân tộc, phá hoại đoàn kết dân tộc, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”. Tại Báo cáo chính trị trong Văn Kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo, chính sách đối với người có công, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài... tiếp tục được hoàn thiện và thực hiện có nhiều tiến bộ”[14].

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc cùng sinh sống. Nhà nước Việt Nam luôn dành sự ưu tiên và đầu tư đáng kể cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có bảo tồn tín ngưỡng truyền thống. Các chương trình như, xuất bản Kinh Thánh bằng tiếng Mông, Ê-đê, Jarai, Banar,…, tổ chức các lớp tập huấn cho chức sắc dân tộc thiểu số, hay các chuyến hành hương, đều thể hiện sự bảo đảm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.

2.4. Về việc Uỷ ban tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ cho rằng Việt Nam đàn áp tổ chức tôn giáo chưa đăng ký

Báo cáo nêu việc các nhóm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị gây khó khăn trong hoạt động và một số tổ chức Cao Đài bị chính quyền gây khó dễ như: tín đồ Cao Đài độc lập bị công an sách nhiễu, ngăn cản việc thăm viếng thánh thất, thực hiện nghi lễ thờ tự, thậm chí cả trong việc tổ chức tang lễ[15]. Cáo buộc này thiếu thuyết phục, không chính xác, vì nó dựa trên lối dẫn liệu một chiều, thiếu căn cứ kiểm chứng. Một thông tin xác thực về tự do tôn giáo không thể chỉ lặp lại lời kể từ một phía rồi biến thành kết luận chính trị. Cần phải có được biên bản, quyết định xử lý, hồ sơ điều tra hay để xác nhận các chi tiết bị nêu. Cách làm đó cho thấy mục tiêu không phải là mô tả sự thật một cách công bằng, mà là dựng nên một hình ảnh tiêu cực về Việt Nam. Điều này càng thiếu thiện chí hơn khi pháp luật Việt Nam hiện hành bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cấm xâm phạm quyền ấy, và trên thực tế Nhà nước đã công nhận, tạo điều kiện cho nhiều tổ chức tôn giáo hoạt động công khai, trong đó có các tổ chức Cao Đài. Vì vậy, quy kết từ một vài thông tin chưa được kiểm chứng để nói rằng Việt Nam đàn áp hay sách nhiễu có hệ thống đối với Cao Đài độc lập là một sự suy diễn võ đoán, thiếu khách quan và nặng động cơ chính trị.

Mặt khác, khung pháp lý của Việt Nam không cấm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật. Các nhóm hay tổ chức lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị trái phép hoặc tranh chấp đất đai dưới danh nghĩa tôn giáo thường có luận điệu xuyên tạc, ảnh hưởng đến uy tín và sự quản lý của Nhà nước. Việc cưỡng chế, xử lý hành chính thường là do vi phạm dân sự (ví như: xây dựng trái phép, chiếm dụng đất,…), đều không phải đàn áp tôn giáo. Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng sự khác biệt giữa niềm tin và hành vi lợi dụng niềm tin tôn giáo để vi phạm pháp luật.

Pháp luật Việt Nam không cấm hoạt động tôn giáo, nhưng yêu cầu các tổ chức tôn giáo đăng kí sinh hoạt. Qua việc đăng ký, các tôn giáo được bảo đảm quyền lợi pháp lý, minh bạch về cơ cấu và hoạt động, tránh bị lợi dụng bởi thế lực phản động. Điều 16 đến điều 20 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (2016) quy định rõ việc phải đăng ký sinh hoạt, hoạt động tôn giáo. Mặt khác cũng không có quy định nào trong luật pháp Việt Nam cho phép cưỡng chế tín đồ từ bỏ nhóm chưa đăng ký để gia nhập nhóm được công nhận. Nếu người theo tôn giáo gia nhập tổ chức tôn giáo được công nhận, sẽ góp phần tạo tính minh bạch trong hoạt động, thống nhất trong quản lý, và tạo điều kiện để tổ chức tôn giáo tiếp cận chính sách công, xây dựng cơ sở thờ tự, đào tạo chức sắc.

Với trường hợp Cao Đài, hiện nay Việt Nam công nhận 10 tổ chức Cao Đài và một pháp môn. Nhiều tổ chức Cao Đài độc lập được cấp phép hoạt động, bao gồm cả những hệ phái tách ra từ Toà Thánh Tây Ninh. Việc công nhận từng tổ chức tùy thuộc vào việc tổ chức đó có tôn chỉ tôn giáo rõ ràng, có đại diện hợp pháp, và không hoạt động vi phạm pháp luật.

Do đó một số hệ phái chưa được công nhận vì chưa đủ các điều kiện theo quy định pháp luật, không thống nhất đại diện pháp lý, hoặc bị lợi dụng để thực hiện tuyên truyền chính trị, kích động chia rẽ khối đoàn kết tôn giáo-dân tộc. Còn về tình huống Phật giáo mà báo cáo Uỷ ban tự do Tôn giáo quốc tế nêu, liên quan đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Đây là một tổ chức tôn giáo liên quan đến giai đoạn trước 1975 và không được công nhận về tư cách pháp nhân ở Việt Nam theo luật hiện hành.

2.5. Sự thiếu khách quan và nhất quán trong Báo cáo của USCIRF

Qua nội dung ở trang 42 và 43 trong Báo cáo thường niên năm 2025 của USCIRF về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam năm 2024, có thể thấy cách tiếp cận của cơ quan này thiếu nhất quán.

Một mặt, USCIRF thừa nhận Việt Nam là quốc gia có đời sống tôn giáo đa dạng và đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau[16]. Mặt khác, báo cáo lại kết luận rằng, chính quyền Việt Nam “hạn chế rộng khắp” quyền tự do tôn giáo. Hai nhận định ấy rõ ràng thiếu sự ăn khớp với nhau. Không chỉ vậy, việc họ chỉ trích Việt Nam vẫn duy trì quy trình pháp lý đối với hoạt động công nhận và đăng ký tổ chức tôn giáo cũng cho thấy cơ quan này đang lấy tiêu chuẩn chính trị của Mỹ để áp vào hệ thống pháp luật của một quốc gia có chủ quyền. Thực tế tại nhiều nước phát triển, các tổ chức tôn giáo cũng phải tuân thủ những điều kiện pháp lý khá chặt chẽ, kể cả về tổ chức, tài chính và nhân sự.

Ngoài ra, báo cáo lựa chọn thông tin thiên lệch khi nhấn mạnh một số sự kiện tranh chấp đất đai liên quan đến Giáo hội Công giáo ở Bình Thuận, hoặc các hiện tượng “tôn giáo mới” chưa được công nhận như Dương Văn Mình, Bà Cô Dợ,… ở miền núi phía Bắc mà không đề cập tới các cơ chế pháp lý, đối thoại và hỗ trợ thực tế của chính quyền đối với đa số các tổ chức tôn giáo khác đang hoạt động ổn định tại Việt Nam.

Sự thiếu công bằng cũng thể hiện qua việc USCIRF không đánh giá đúng bối cảnh vụ việc Đắk Lắk (2023) là một vụ tấn công vũ trang gây thiệt hại sinh mạng và an ninh, mà chỉ tập trung vào cáo buộc “vi phạm tự do tôn giáo”, không phân biệt rõ đâu là hành vi tôn giáo, đâu là hành vi phạm tội hình sự.

Như vậy, phải chăng các thông tin về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam trong năm 2024 thể hiện trong Báo cáo thường niên năm 2025 của USCIRF là một sự trộn lẫn giữa việc nhân danh đánh giá nhân quyền để thực hiện áp đặt tiêu chí bên ngoài vào một nước khác. Điều này có thể gây ra sự hiểu nhầm hoặc cách nhìn thiếu thiện chí của các nước với Việt Nam trên trường quốc tế.

3. Ảnh hưởng của thông tin sai lệch, thiếu khách quan về Việt Nam trong Báo cáo của USCIRF

Theo Báo cáo thường niên năm 2025, USCIRF đề nghị Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) về tự do tôn giáo. Đây không chỉ là một sức ép về chính trị đối ngoại, mà còn có thể kéo theo nhiều hệ lụy đối với chính sách tôn giáo, an ninh và ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Việc bị xếp vào danh sách này dễ tạo ra tâm lý phòng vệ trong xã hội, đồng thời làm cho một bộ phận tín đồ hoài nghi về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nguy hiểm hơn, các thế lực chống đối có thể lợi dụng việc này như một cái cớ để xuyên tạc, kích động và lôi kéo chống phá, từ đó tác động xấu đến ổn định xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Các cáo buộc thiếu bằng chứng thuyết phục, nặng tính chủ quan, áp đặt từ USCIRF có thể tạo ra dư luận xấu, làm giảm uy tín của chính quyền với quần chúng nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là những nơi còn khó khăn về kinh tế, vùng sâu, vùng xa, dân trí chưa cao.

Mặt khác, từ kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy, việc áp đặt danh sách CPC được Mỹ sử dụng như một công cụ mặc cả trong quan hệ song phương giữa họ và các quốc gia khác. Trong trường hợp của Việt Nam, những thông tin của Uỷ ban tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ không phù hợp với đà phát triển tích cực của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Mỹ - Việt Nam được thiết lập vào năm 2023, vốn nhấn mạnh sự tin cậy chính trị và hợp tác dựa trên tôn trọng lẫn nhau.

Việc USCIRF khuyến nghị đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC có thể gây tác động bất lợi đến uy tín và hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, nếu đánh giá thiếu khách quan rất dễ làm cho một số nước và tổ chức quốc tế hiểu không đúng về tình hình thực tế ở Việt Nam. Điều này làm cho những nỗ lực và kết quả mà Việt Nam đạt được trong việc bảo đảm quyền tự do tôn giáo và quyền con người có thể không được ghi nhận.

Thiết nghĩ, việc tăng cường tổ chức các chuyến thăm, gặp gỡ giữa chức sắc tôn giáo, học giả, và nhà hoạt động xã hội hai bên sẽ góp phần hiểu rõ hơn chính sách tôn giáo ở Việt Nam, từ đó hóa giải định kiến, đồng thời giúp phía Mỹ hiểu rõ hơn về thực hành tôn giáo tại Việt Nam không chỉ dưới lăng kính thể chế, mà còn ở cấp độ cộng đồng, sự hài lòng của người dân.

4. Kết luận

Báo cáo thường niên năm 2025 của USCIRF đưa ra thông tin rằng Việt Nam có những vi phạm nghiêm trọng đối với quyền tự do tôn giáo. Tuy nhiên, thông qua phân tích pháp lý, đối chiếu thực tiễn và tham chiếu với luật pháp hiện hành, chúng tôi cho rằng nhiều lập luận trong báo cáo là không khách quan, thiếu cơ sở dữ liệu xác thực và không phản ánh đúng thực tế tình hình tôn giáo đang diễn ra tại Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia có hệ thống pháp luật quy định rõ ràng, công khai về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, được bảo đảm trong Hiến pháp và các văn bản luật liên quan. Các hình thức quản lý hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng như đăng ký sinh hoạt, đăng ký hoạt động, khuyến khích minh bạch tài chính, quy định địa điểm sinh hoạt tôn giáo,… là hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Cùng với đó, là đất nước với đa tin ngưỡng, tôn giáo, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo sinh động, đoàn kết, hòa bình của Việt Nam là minh chứng sống động cho chính sách tự do tôn giáo và bản sắc riêng có của bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo sống động của Việt Nam.

Việc USCIRF “áp đặt” các khuyến nghị mang tính chính trị hóa, thiếu tinh thần đối thoại, không chỉ gây tổn hại đến hình ảnh và nỗ lực cải cách của Việt Nam, mà còn có nguy cơ phá vỡ nền tảng hợp tác song phương vốn đang tiến triển tích cực giữa hai nước.

Tài liệu tham khảo:

  1. Ban Tôn giáo Chính phủ. (2023). Sách Trắng về Tôn giáo ở Việt Nam. Nxb. Tôn giáo. Hà Nội.
  2. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. (2024). Vietnam 2023 Report on International Religious Freedom. https://www.state.gov/reports/2023-report-on-international-religious-freedom/vietnam/
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  5. Đảng cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Bản pdf, Nguồn: https://xdcs.cdnchinhphu.vn/446259493575335936/2026/2/6/bao-cao-ctri-17703880212842123567259-17703933605411372590556.pdf
  6. Đỗ Quang Hưng (2002), Hồ Chí Minh và nền tảng luật pháp tôn giáo nước ta, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3
  7. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2024), Giáo trình lý luận và pháp luật quyền con người. Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
  8. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2023). Nghị định 95/2023/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. https://cms.btgcp.gov.vn/upload/documents/05_01_2024/nghi-dinh-so-95-2023-nd-cp-quy-dinh-chi-tiet-mot-so-dieu-va-bien-phap-thi-hanh-luat-tin-nguong-ton-giao-2024-01-05-17-12-48.pdf
  9. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-hien-phap-nuoc-cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-119231225213002261.htm.
  10. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. (2017). Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.
  11. USCIRF (2025). Annual Report 2025. U.S. Commission on International Religious Freedom. https://www.uscirf.gov/annual-reports.

[1] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tập 4, tr. 8.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr. 72.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 76.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 169.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 2, tr. 382.

[6] United States Commission on International Religious Freedom, 2025.

[7] Xem: Giới thiệu nội dung cơ bản Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo (thay thế Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo), tài liệu phục vụ phổ biến, tuyên truyền pháp luật. Nguồn: https://www.hvu.edu.vn/file/1548236183/488sy-lv-tgcp-3.pdf

[8] Có thể xem thông tin về nhân vật này trên website: https://bocongan.gov.vn/bai-viet/xet-xu-bi-cao-y-krec-bya-ve-toi-pha-hoai-chinh-sach-doan-ket-d22-t38329

[9] Có thể xem thông tin về nhân vật này trên website: https://tuoitre.vn/phat-bi-cao-loi-dung-cac-quyen-tu-do-dan-chu-4-nam-6-thang-tu-2024012610082735.htm

[10] https://cand.com.vn/Ban-tin-113/loi-dung-cac-quyen-tu-do-dan-chu-2-bi-cao-linh-an-tu-i725831/

[11] United States Commission on International Religious Freedom, 2025, p.42.

[12] Hiến Pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

[13] United States Commission on International Religious Freedom, 2025, p. 42.

[14] Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Bản pdf, tr.5. https://xdcs.cdnchinhphu.vn/446259493575335936/2026/2/6/bao-cao-ctri-17703880212842123567259-17703933605411372590556.pdf.

[15] United States Commission on International Religious Freedom, 2025, p.42.

[16] United States Commission on International Religious Freedom, 2025, p. 43.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    THỰC TẾ TỰ DO TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM: BẰNG CHỨNG BÁC BỎ MỌI XUYÊN TẠC
    • Mặc định
    trống đồng