Góc nhìn khoa học xã hội

Thành tựu vượt bậc và đột phá tư duy trong chính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam qua 40 năm đổi mới

Trần Hoàng Long Hưng 17/03/2026 19:00

Một trong những chiêu bài thường xuyên được các thế lực thù địch sử dụng để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam là vu cáo Việt Nam "vi phạm tự do tôn giáo", "đàn áp tín ngưỡng", "không bảo đảm nhân quyền" trong lĩnh vực tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn sinh động 40 năm Đổi mới đã bác bỏ hoàn toàn những luận điểm sai trái đó. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách và pháp luật tôn giáo đã có những bước tiến vượt bậc, thể hiện tư duy khoa học, biện chứng và nhân văn sâu sắc. Từ chỗ tôn giáo bị nhìn nhận qua lăng kính hẹp, Đảng đã từng bước đổi mới nhận thức, thừa nhận tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của nhân dân, là bộ phận hợp thành không thể tách rời của đời sống văn hóa và xã hội dân tộc. Bài viết phân tích sáu thành tựu nổi bật và ba đột phá quan trọng trong chính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến nay, những bằng chứng khoa học không thể phủ nhận về tính đúng đắn của đường lối Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.

1. Nền tảng tư tưởng của Đảng về tôn giáo

Bước ngoặt trong nhận thức của Đảng về tôn giáo bắt đầu từ Đại hội VI (1986). Tinh thần đổi mới tư duy, mở rộng dân chủ của Đại hội VI đã tháo gỡ những "điểm nghẽn" lâu nay về nhận thức tôn giáo. Tiếp theo đó, Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị đã xác lập ba luận điểm có tính nền tảng, đến nay vẫn còn nguyên giá trị: tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng đất nước. Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác–Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, thể hiện bản lĩnh lý luận và sức sống thực tiễn của tư duy Đảng. Tiếp nối tinh thần đó, Chỉ thị 37-CT/TW (1998) bổ sung quan điểm phát huy giá trị tôn giáo; Nghị quyết 25-NQ/TW (2003) tổng kết lý luận và thực tiễn chính sách tôn giáo; Chỉ thị 18-CT/TW (2018) của Bộ Chính trị nêu rõ yêu cầu phát huy nguồn lực tôn giáo; đến Văn kiện Đại hội XIII, lần đầu tiên Đảng chính thức khẳng định phát huy nguồn lực tôn giáo cho phát triển đất nước. Đây là chuỗi phát triển lý luận nhất quán, có hệ thống, đủ cơ sở khoa học để bác bỏ luận điểm sai trái rằng chính sách tôn giáo của Việt Nam "thiếu nhất quán" hay "mang tính cơ hội".

2. Bằng chứng thực tiễn không thể phủ nhận

Thứ nhất, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đầy đủ và thực chất. Hiến pháp 2013 (Điều 24) khẳng định quyền hiến định này; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) quy định chi tiết, bảo đảm mọi người dân đều có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo. Những con số biết nói: từ 13,5 triệu tín đồ năm 1990, đến năm 2025 đã có khoảng 27 triệu tín đồ, chiếm gần 1/3 dân số cả nước; Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc 2025 tại TP. Hồ Chí Minh thu hút hơn 2.700 đại biểu trong nước và quốc tế đến từ 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, đó là minh chứng hùng hồn nhất bác bỏ luận điểm vu cáo Việt Nam "đàn áp tôn giáo". Riêng việc rước xá lợi Phật về chiêm bái, chùa Quán Sứ Hà Nội đón tới 5 triệu lượt người trong vài ngày, điều này chỉ có thể xảy ra dưới một chính sách tôn giáo thực sự cởi mở và tôn trọng quyền của người dân. Thứ hai, công nhận pháp nhân tôn giáo, từ 3 lên 43 tổ chức. Trước Đổi mới, chỉ có 3 tổ chức tôn giáo được công nhận. Đến nay đã có 16 tôn giáo và 43 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) lần đầu tiên xác định pháp nhân phi thương mại cho các tổ chức tôn giáo, một bước tiến pháp lý quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho quyền hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Thứ ba, phát huy giá trị và nguồn lực tôn giáo cho phát triển đất nước. Hằng năm, các tôn giáo đóng góp hàng ngàn tỷ đồng cho hoạt động từ thiện, an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường. Trong đại dịch Covid-19, các tổ chức tôn giáo không chỉ đóng góp vật chất mà còn cử người tham gia chống dịch, cung cấp cơ sở tôn giáo làm nơi cách ly, thể hiện truyền thống yêu nước, đồng hành cùng dân tộc của cộng đồng tôn giáo Việt Nam. Thứ tư, cải cách hành chính, xóa bỏ cơ chế xin-cho. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016) đã giảm thời gian công nhận tổ chức tôn giáo từ 20 năm xuống còn 5 năm; chuyển từ cơ chế xin-cho sang cơ chế đăng ký–thông báo; nhiều hoạt động tôn giáo chỉ cần thông báo, không cần xin phép, thể hiện tư duy hành chính phục vụ, lấy người dân và tổ chức tôn giáo làm trung tâm. Thứ năm, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính sách tôn giáo đúng đắn đã góp phần tạo nên sự đồng thuận xã hội rộng lớn. Không xảy ra xung đột tôn giáo tại Việt Nam trong suốt những năm qua; các tổ chức tôn giáo đoàn kết, hài hòa với nhau và đồng hành cùng dân tộc với tinh thần "sống tốt đời, đẹp đạo". Thứ sáu, thúc đẩy đối ngoại tôn giáo và nâng cao vị thế quốc tế. Việc thiết lập Văn phòng đại diện thường trú của Tòa Thánh Vatican tại Hà Nội năm 2023 là thành tựu ngoại giao tôn giáo lịch sử, phản ánh sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế vào chính sách tôn giáo của Việt Nam. Bốn lần tổ chức thành công Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc (2008, 2014, 2019, 2025) đã khẳng định Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, hòa bình, nhân văn và bao dung.

3. Sức mạnh lý luận của Đảng trong lĩnh vực tôn giáo

Đột phá thứ nhất là đột phá về tư duy, nhận thức và ứng xử với tôn giáo. Đây là đột phá mang tính nền tảng và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc nhất. Đảng đã chuyển từ nhận thức tôn giáo như "hình thái ý thức xã hội" thuần túy sang nhìn nhận tôn giáo như một "thực thể xã hội" có vai trò, giá trị và đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội và con người. Từ việc coi các tổ chức tôn giáo là "đối tượng quản lý" cần kiểm soát, Đảng và Nhà nước đã chuyển sang coi các tổ chức tôn giáo là "đối tác phát triển", cùng đồng hành, cùng chung vai xây dựng đất nước. Sự đột phá này chính là bằng chứng hùng hồn nhất về năng lực tự đổi mới và tự hoàn thiện của Đảng, điều mà các luận điểm sai trái vẫn cố tình phủ nhận. Đột phá thứ hai là đột phá về tư duy chính sách và thể chế pháp lý. Trước Đổi mới, hoạt động tôn giáo được điều chỉnh chủ yếu bằng chỉ thị, nghị quyết nội bộ, chưa hình thành tư duy quản lý bằng pháp luật. Sự ra đời của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) đánh dấu bước ngoặt lịch sử: lần đầu tiên Việt Nam có văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực tôn giáo. Tiếp đó, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (2016), đạo luật đầu tiên điều chỉnh toàn diện và chi tiết lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, là bước tiến vĩ đại trong pháp điển hóa quyền tự do tôn giáo. Luật đã thừa nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền hiến định; quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tôn giáo; thiết lập quy trình đăng ký, công nhận minh bạch; đồng thời xác định rõ các hành vi nghiêm cấm, trong đó có việc lợi dụng tôn giáo để chia rẽ dân tộc, phá hoại an ninh. Đây là cơ sở pháp lý vững chắc để phân biệt quyền tự do tôn giáo chính đáng với những hành vi lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước. Đột phá thứ ba là đột phá về phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ yêu cầu "chủ động giúp đỡ, giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng", tức là Nhà nước không chỉ xóa bỏ cơ chế xin-cho mà còn phải chủ động hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các tổ chức tôn giáo hoạt động. Đây là chuyển biến từ nhà nước "kiểm soát" sang nhà nước "phục vụ" trong lĩnh vực tôn giáo, một bước tiến phù hợp với xu thế xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Đảng về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật.

4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Những thành tựu và đột phá trong chính sách, pháp luật tôn giáo không chỉ có giá trị thực tiễn trong đảm bảo quyền của đồng bào có đạo, mà còn có ý nghĩa lý luận và chính trị quan trọng trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Về mặt lý luận, những thành tựu này chứng minh sức sống và giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh khi được vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bác Hồ đã từng khẳng định giá trị của các tôn giáo. Người cho rằng, Chúa Giêsu, Khổng Tử, C.Mác đều hướng đến mục tiêu chung là hạnh phúc của con người. Chính sách tôn giáo ngày nay của Đảng đã thể hiện tinh thần đó. Về mặt thực tiễn, chính sách tôn giáo đúng đắn đã biến tiềm năng tín ngưỡng, tôn giáo của gần 27 triệu tín đồ thành nguồn lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng đất nước, đó là thắng lợi của tư duy lấy dân làm gốc, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất. Về mặt đấu tranh tư tưởng, toàn bộ hệ thống bằng chứng thực tiễn nêu trên là công cụ sắc bén nhất để bác bỏ các luận điểm vu cáo của các thế lực thù địch về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam. Không có "đàn áp tôn giáo" nào lại có thể cho phép hàng chục triệu tín đồ sinh hoạt công khai, hàng chục nghìn cơ sở thờ tự được xây dựng mới, hàng trăm ngàn người tham dự các lễ hội tôn giáo lớn, và hàng chục tổ chức tôn giáo quốc tế đến hợp tác, giao lưu hàng năm tại Việt Nam.

Bốn mươi năm Đổi mới đã để lại một di sản chính sách tôn giáo đáng tự hào, minh chứng rõ ràng nhất cho tính đúng đắn và sức mạnh của đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ sự đột phá về tư duy nhận thức, đến những thành tựu pháp lý, từ việc đảm bảo quyền tự do tôn giáo đến phát huy nguồn lực tôn giáo cho phát triển đất nước, tất cả đều phản ánh nhất quán quan điểm của Đảng: luôn lấy dân làm gốc, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất của mọi chính sách. Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, chính sách tôn giáo cần tiếp tục được hoàn thiện theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết chuyên đề của Đảng, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về phương thức, hiện đại về công cụ quản lý, để đáp ứng tốt hơn nhu cầu tinh thần, tín ngưỡng ngày càng phong phú của nhân dân, đồng thời kiên quyết đấu tranh với mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây chính là con đường để Việt Nam tiếp tục khẳng định trước cộng đồng quốc tế là một quốc gia đa tôn giáo, hòa bình, nhân văn và bao dung, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    Thành tựu vượt bậc và đột phá tư duy trong chính sách, pháp luật tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam qua 40 năm đổi mới
    • Mặc định
    trống đồng