Thành phần các dân tộc Việt Nam qua lăng kính dân tộc học
Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam công bố năm 1979 dựa trên các kết quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc và nhận được sự đồng thuận của tất cả các dân tộc.
Từ lâu đời, Việt Nam đã có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có thể chia thành hai nhóm chính: i) Các dân tộc tại chỗ đã sinh sống lâu đời ; ii) Các dân tộc di cư từ nước khác đến. Trong các dân tộc di cư đến Việt Nam, có những cuộc thiên di đã diễn ra từ hàng trăm năm trước, song cũng có những đợt di cư mới diễn ra trong khoảng trăm năm trở lại đây. Ngoài ra còn có những cuộc di cư nhỏ lẻ của một bộ phận người dân thuộc nhiều dân tộc diễn ra thường xuyên. Quá trình di dân này đã khiến một số dân tộc vốn có chung nguồn gốc ban đầu bị phân chia thành nhiều nhóm và sống đan xen với các dân tộc khác ở cùng hoặc khác địa phương. Trong quá trình đó, việc giao lưu văn hóa và hoạt động kinh tế, hôn nhân hỗn hợp dân tộc... diễn ra ngày càng mạnh mẽ, dẫn đến mức độ tương đồng giữa các dân tộc ngày càng lớn, thậm chí có dân tộc hoặc nhóm địa phương đã hòa vào các dân tộc khác hoặc những nhóm địa phương của dân tộc khác. Trong bối cảnh di dân và gia tăng sự hội nhập, mức độ tương đồng giữa các dân tộc đã dẫn đến tình trạng có thể một dân tộc nhưng được gọi bằng nhiều tên, gồm tên tự gọi chung của dân tộc, tên các nhóm địa phương tự gọi, tên do các dân tộc khác gọi. Hơn nữa, do có nhiều nhóm địa phương cư trú ở những địa bàn khác nhau nên tuy thuộc một dân tộc nhưng ý thức tự giác và cố kết chỉ có trong nội bộ nhóm địa phương, tự nhận thành phần dân tộc theo nhóm địa phương. Bởi thế, trước đây không thể biết chính xác ở Việt Nam có bao nhiêu dân tộc và nhóm địa phương trong cùng một dân tộc, các dân tộc và nhóm địa phương này cư trú ở những đâu. Đó là lý do ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, nhất là sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo tổ chức điều tra, xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam để phục vụ công tác quản lý nhà nước, thực hiện chính sách dân tộc, điều tra dân số hay thống kê theo dân tộc và những lĩnh vực, nhiệm vụ khác có liên quan.
Việc xác định thành phần dân tộc ở nước ta được tiến hành chính thức từ cuối những năm 60 thế kỷ XX, do Viện Dân tộc học (nay là Viện Dân tộc học và Tôn giáo học) thuộc Ủy ban khoa học xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) chủ trì, cùng với một số ngành khoa học khác như Ngôn ngữ học, Sử học,... Trên cơ sở kết quả cuộc điều tra, xác định thành phần dân tộc của Viện Dân tộc học, ngày 22-12-1978, Liên Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam và Ủy ban Dân tộc Trung ương đã có tờ trình Thủ tướng Chính phủ về kết quả xác định thành phần dân tộc. Thừa ủy quyền của Hội đồng Chính phủ, ngày 2 tháng 3 năm 1979, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đã ký Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ chính thức ban hành Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc. Trong 54 dân tộc, nhiều dân tộc có những tên gọi khác và có các nhóm địa phương, cụ thể cả nước có trên 300 nhóm địa phương. Danh mục này đã được sử dụng thống nhất trên cả nước từ 1979 đến nay. Có thể khẳng định, Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam là đóng góp to lớn của Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, mà trực tiếp là Viện Dân tộc học, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta.
Tuy nhiên, thành phần dân tộc là một phạm trù lịch sử, nên luôn có những biến động theo thời gian, đồng thời trong quá trình xác định do tác động của một số yếu tố chủ quan và khách quan nên ở nước ta hiện đang đặt ra một số vấn đề về tộc danh, thành phần dân tộc của một số ít dân tộc và nhóm địa phương.[1] Do đó, vấn đề này cũng thu hút sự quan tâm và bàn thảo từ một số ít học giả nước ngoài. Salemink (2003, 2015) cho rằng việc gộp, tách và đặt tên các nhóm dân tộc thường được dẫn dắt bởi các nhu cầu hành chính và chính trị, qua đó làm cho bảng phân loại dân tộc mang tính quy phạm và áp đặt từ phía nhà nước hơn là sự phản ánh đầy đủ nhận thức về tộc người. Hay Keyes (2002) và Ito (2015) lập luận rằng việc đặt tên, gộp và tách các nhóm dân tộc thể hiện tính chất kiến tạo của nhà nước, qua đó cho thấy phân loại dân tộc là một quá trình tri thức - quyền lực hơn là một hoạt động khoa học thuần túy. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển của các dân tộc, một cộng đồng có thể bị phân tách thành các nhóm địa phương do quá trình di cư, cộng cư với dân tộc khác ở vùng đất mới. Quá trình này sẽ dẫn đến sự đa dạng trong bản sắc văn hóa giữa các nhóm trong một dân tộc hay sự tương đồng bản sắc giữa các dân tộc chung sống gần nhau. Thực tế này cũng được ghi nhận và chứng minh ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hơn thế nữa, 3 tiêu chí khoa học được các nhà dân tộc học Việt Nam sử dụng để xác định thành phân dân tộc bao gồm: có chung đặc điểm văn hóa, sử dụng chung ngôn ngữ và có chung ý thức tự giác tộc người, được kế thừa có chọn lọc các thành tựu khoa học cũng như thực tế áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, như Liên Xô, Trung Quốc,... Kết quả xác định thành phần dân tộc đều được các nhà dân tộc học tổ chức tham vấn với người dân, thảo luận với chính quyền địa phương trước khi xác định tên gọi chính thức cho một dân tộc cụ thể. Bên cạnh tên gọi chính thức, các tên gọi khác của các dân tộc và nhóm địa phương cũng được ghi nhận và thể hiện ở mục tên gọi khác.
Từ khi công bố danh mục đến nay, Danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam có đóng góp quan trọng cho việc hoạch định và thực các chính sách ưu việt, tốt đẹp của Đảng và Nhà nước ta dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số, không thể hiện bất kỳ sự phân biệt, đối xử giữa các dân tộc, nhất là các dân tộc di cư đến sau luôn nhân được sự quan tâm hỗ trợ ưu tiên để ổn định đời sống, hội nhập vào cộng đồng quốc gia Việt Nam. Đặc biệt, các dân tộc cũng luôn tự hào khi biết rõ mình thuộc về dân tộc nào, nhóm địa phương nào, lịch sử của mình ra sao, bản sắc văn hóa của mình là gì.
Có thể khẳng định, Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam công bố năm 1979 là dựa trên các kết quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc và nhận được sự đồng thuận của tất cả các dân tộc. Việc hiện nay nảy sinh một số vấn đề mới về tên gọi, thành phần dân tộc của một số rất ít tộc người và nhóm địa phương là do những động thái mới của quá trình tộc người trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; là do sự trỗi dậy của ý thức tự giác dân tộc và chủ nghĩa dân tộc; tác động của việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đối với các dân tộc có dân số ít;... Trong bối cảnh hiện tại, để góp phần phục vụ phát triển đất nước, ngành Dân tộc học tiếp tục tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn mới về thành phân dân tộc gắn với ý thức tộc người, bản sắc văn hóa tộc người trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở đó, cung cấp luận cứ và luận chứng có giá trị khoa học góp phần thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ công cuộc phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[1] Do thành phần dân tộc ở nước ta đa dạng với nguồn gốc và quá trình tộc người khác nhau, Những năm 60-70 của thế kỷ XX, đất nước ta còn trong chiến tranh, nhiều vùng nổi lên thổ phỉ, Fulro, nên điều kiện điều tra xác định thành phần các dân tộc rất hạn chế, nhất là ở những dân tộc vốn sống rải rác ở miền núi, nơi vùng sâu, vùng biên giới. Chưa kể tới những vấn đề học thuật ở thời kỳ này còn hạn chế nên không thể tránh khỏi một số thiếu sót về khoa học. Trong khi các dân tộc ở Việt Nam vốn có sự phức tạp về nguồn gốc lịch sử, quá trình tộc người, phân bố cư trú..., dẫn đến tính tương đồng giữa các dân tộc cùng địa bàn sinh sống khá cao. Điều này làm cho các tiêu chí xác định thành phần dân tộc đối với một số dân tộc, nhóm địa phương bị “mờ”, có thể có nhiều điểm tương đồng với các dân tộc khác nhưng lại khác biệt so với đồng tộc của mình. Tại Việt Nam, từ khi kết quả xác định thành phần dân tộc được công bố, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta từng bước hoàn thiện, mang lại nhiều lợi ích cho các dân tộc thiểu số, nhất là những dân tộc có dân số ít, sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng biên giới, vùng còn nhiều khó khăn. Đây cũng là một trong những yếu tố tác động đến tâm lý, ý thức của một bộ phận người dân về việc xác định thành phần dân tộc của mình nhằm được hưởng các chính sách ưu tiên của Nhà nước. Trong khi đó, sau khi Danh mục ban hành chúng ta đã không thường xuyên hướng dẫn, tuyên truyền cho đội ngũ cán bộ, nhà trường, truyền thông, người dân cách sử dụng tên gọi và xác định thành phần dân tộc cho đúng, thống nhất trên của nước, nên dẫn đến những sai sót trong cách sử dụng tên gọi và xác định thành phần dân tộc ở một số dân tộc và nhóm địa phương. Vì những lý do nêu trên, kể từ khi Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam được công bố năm 1979 đến nay đã có những vấn đề nảy sinh, như: một số nhóm địa phương hiện thuộc một dân tộc muốn trở thành các dân tộc riêng; một số dân tộc muốn đổi tên gọi; một số nhóm muốn được xác định thành phần là dân tộc riêng hay nhóm địa phương của dân tộc nào, vì chưa được xác định trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam năm 1979.


