Tăng trưởng hai con số: Bốn nguyên tắc cốt lõi
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2, Khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh bốn nguyên tắc cốt lõi trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số: tăng trưởng thực chất; ổn định kinh tế vĩ mô; tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực; đảm bảo công bằng xã hội.
1. Bốn nguyên tắc cốt lõi - nền tảng chiến lược để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là đòi hỏi khách quan trước yêu cầu cấp bách phải đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, tránh bị tụt hậu trong bối cảnh thế giới đang chuyển đổi mạnh sang phát triển dựa trên tri thức khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, để tránh tăng trưởng trên con số thống kê[1], tăng trưởng bằng mọi giá, tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn nhưng ảnh hưởng đến phát triển bền vững trong dài hạn, tăng trưởng nhưng người dân ít được hưởng lợi, Tổng Bí thư Tô Lâm đã quán triệt bốn nguyên tắc cốt lõi:
Một là, tăng trưởng thực chất;
Hai là, kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn;
Ba là, tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia;
Bốn là, tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội[2].
2. Bốn nguyên tắc cốt lõi: Mỗi nội hàm là một khát vọng
i) Tăng trưởng thực chất
Trong bốn nguyên tắc cốt lõi này, nguyên tắc đầu tiên yêu cầu tăng trưởng thực chất, thể hiện quan điểm, tầm nhìn phải đảm bảo tính hài hòa, hợp lý của việc xác định mục tiêu tăng trưởng nhanh trong một giai đoạn với mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.
Việt Nam không thể tiếp tục mô hình tăng trưởng dựa trên các động lực truyền thống như khai thác tài nguyên và xuất thô, xuất khẩu hàng gia công, lắp ráp dựa trên lao động chi phí thấp, hay chủ yếu dựa vào đầu tư công trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp hiện nay. Mô hình tăng trưởng phải chuyển sang dựa trên năng suất, chất lượng, trên cơ sở kích hoạt ba động lực tăng trưởng mới là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để đảm bảo tăng trưởng thực chất và bền vững.

Việt Nam vẫn còn dư địa tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên, có giá trị cao với công nghệ mới của thế giới như kim loại hiếm, hoặc tiếp tục là công xưởng gia công cho thế giới trong các ngành công nghiệp chế tạo, giày da, may mặc, nhưng như vậy Việt Nam sẽ luôn là quốc gia đi sau, hưởng lợi ít ỏi từ giá trị gia tăng trong đơn giá sản phẩm cuối cùng, không thể đạt được khát vọng vươn lên trong kỷ nguyên mới.
ii) Đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô
Nguyên tắc thứ hai nhấn mạnh yêu cầu đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh.
Khi ba động lực tăng trưởng mới là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới được kích hoạt, chưa đủ thời gian thẩm thấu để phát huy ngay được, thì trong giai đoạn chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đầu tư công vẫn đóng vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu. Với mục tiêu đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam cần có thêm nhiều công trình, hạ tầng kinh tế trọng điểm, hiện đại, đòi hỏi vốn đầu tư công lớn.
Theo báo cáo của Bộ trưởng Bộ Tài chính tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, tổng vốn đầu tư công giai đoạn 2026-2030 là 8,22 triệu tỷ đồng[3], gấp 2,86 lần tổng vốn đầu tư công giai đoạn 2021-2025 (2,87 triệu tỷ đồng)[4].
Trong điều kiện nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp chưa phục hồi sau giai đoạn suy thoái kinh tế, đứt gãy chuỗi cung ứng do hệ lụy của đại dịch Covid-19 làm ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách, trong khi Chính phủ vẫn phải đảm bảo an sinh xã hội, áp lực của đầu tư công lên ngân sách nhà nước là rất lớn. Sự thiếu hụt kinh phí cho đầu tư công không thể được bù đắp từ hoạt động in thêm tiền do sẽ ngay lập tức tác động lên lạm phát, gây mất ổn định kinh tế vĩ mô - điều mà nguyên tắc thứ hai cảnh báo.
Trước mắt, Chính phủ chọn giải pháp nỗ lực “thắt lưng buộc bụng”. Trong dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, tiết kiệm ngay 5% dự toán khi phân bổ chi đầu tư ngân sách đầu năm 2026 để bổ sung nguồn đầu tư công trình đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên (ngoài tiết kiệm tạo nguồn cải cách tiền lương) bổ sung nguồn chi an sinh xã hội[5].
iii) Tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực
Nhiều chuyên gia đánh giá rằng, có nhiều bằng chứng cho thấy “tiền trong dân còn rất nhiều”. Vì vậy, giải pháp có tính căn cơ, hợp lý nhất mà nguyên tắc thứ ba đã đề cập, đó là tối ưu hóa các nguồn lực sẵn có và tăng cường hợp tác công - tư. Cần tăng cường sử dụng hiệu quả vốn nhà nước với vai trò đầu tư mồi để thu hút đầu tư tư nhân, phát huy hiệu quả mô hình hợp tác công - tư trong đầu tư các công trình trọng điểm, có tính lan tỏa phát triển mạnh.
Đây là giải pháp đặc biệt quan trọng để phát huy vai trò “kiến tạo, dẫn dắt” của kinh tế nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, phát huy vai trò một động lực quan trọng nhất của kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Mặt khác, điều này cũng góp phần đập tan các thông tin xuyên tạc trên báo chí phản động rằng đầu tư công gây lãng phí thay vì thừa nhận đầu tư công là đòn bẩy phát triển kinh tế[6]. Điều quan trọng cốt lõi là cần phân loại từng công trình, xác định cơ chế, phương thức hợp tác công - tư phù hợp, đảm bảo tính hấp dẫn và độ tin cậy để thu hút sự quan tâm của đầu tư tư nhân, khơi thông dòng vốn tư nhân đổ vào các công trình trọng điểm.
iv) Đảm bảo công bằng xã hội
Nguyên tắc thứ tư đặt ra yêu cầu người dân phải được hưởng lợi từ tăng trưởng. Nguyên tắc này đã trực tiếp đánh thẳng vào các luận điệu xuyên tạc của nhóm phản động rêu rao trên mạng xã hội rằng người dân không được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế[7].
Đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển Chính phủ số, chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, công dân số là các giải pháp vừa tạo ra những động lực tăng trưởng mới, bứt phá phát triển, vừa thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, nâng cao khả năng tiếp cận của nhóm yếu thế đối với dịch vụ công, các dịch vụ thiết yếu, an sinh xã hội, để người dân được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế và các thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để không ai bị bỏ lại phía sau, đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội.
3. Tăng trưởng hai con số: áp lực lớn, quyết tâm cao, giải pháp đột phá
Áp lực của mục tiêu tăng trưởng hai con số là rất lớn, đặc biệt là đối với các ngành chủ lực, vùng kinh tế trọng điểm phải “gánh vác” cho các lĩnh vực công ích, đảm bảo an sinh xã hội, những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, chậm phát triển. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng thực tế cho thấy thể chế, cơ chế chính sách vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để tạo khung khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch cho môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo niềm tin cho các chủ thể tham gia nền kinh tế.
Cần chuyển đổi mạnh tư duy thiết kế chính sách pháp luật từ quản lý sang kiến tạo phát triển, áp dụng cơ chế thí điểm (sandbox) cho các đặc khu kinh tế - hành chính, các vùng kinh tế trọng điểm, khuyến khích mô hình kinh doanh, dịch vụ mới chưa từng có mà không phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành. Điều này sẽ giúp tạo sự bứt phá trong phát triển đối với các vùng, địa phương có điều kiện thuận lợi vượt trội.
Các Bộ ngành cần ban hành và nâng cao hiệu quả các chương trình khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; các tỉnh, thành phố cần thành lập, nâng cao hiệu quả các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để khu vực tư nhân phát huy được vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
Trong xu hướng đẩy mạnh hợp tác công - tư trong đầu tư các công trình trọng điểm, cần có sự rõ ràng, minh bạch về cơ chế hợp tác đặc thù cho từng công trình trọng điểm để thu hút, tạo niềm tin và sự yên tâm đầu tư của khu vực tư nhân, đồng thời cũng cần tạo cơ chế bảo vệ cán bộ trước rủi ro khi xử lý cơ chế đặc thù mà chưa được đề cập đầy đủ, rõ ràng trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành.
4. Tạm kết
Bốn nguyên tắc cốt lõi là nền tảng chiến lược của mục tiêu tăng trưởng hai con số, để đảm bảo tuân thủ đòi hỏi trình độ và nghệ thuật điều hành cao của Chính phủ trong sử dụng linh hoạt chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Bốn nguyên tắc cốt lõi sẽ giúp khơi thông dòng tín dụng vào khu vực sản xuất và nền kinh tế thực, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, nhất là khu vực tư nhân, qua đó tăng nguồn thu ngân sách; đồng thời đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Bốn nguyên tắc cốt lõi trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số cho thấy sự kiên định của Đảng và Nhà nước trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mục tiêu trung tâm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; đưa đất nước Việt Nam vươn mình; vừa đảm bảo một nền kinh tế tự chủ, tự cường, vừa tích cực, chủ động hội nhập quốc tế hiệu quả, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế trong kỷ nguyên mới./.
[1] thế lực phản động lợi dụng mạng xã hội để phản bác về số liệu tăng trưởng kinh tế hòng tác động tâm lý, gây nghi ngờ trong nhân dân, lung lạc niềm tin về sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số đã được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết của Đảng, của Quốc hội.
[2] Tô Lâm (2026), Phát biểu Bế mạc Hội nghị Trung ương 2, Khóa XIV, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-be-mac-hoi-nghi-trung-uong-2-khoa-xiv-cua-tong-bi-thu-to-lam-119260325155346466.htm?gidzl=CvN08CZXF1iyZySloVew5JsDo23Hhp959OxFVeRwO1jzsyijsQuqJtxPod-Fe3XDTTF2TcN2GCe3mkGp4m , ngày 29/3/2026.
[3] Hoàng Yến (2026), “Kế hoạch đầu tư công 2026 – 2030: Giảm 30% dự án so với giai đoạn trước”, Thời báo Tài chính Việt Nam, https://thoibaotaichinhvietnam.vn/ke-hoach-dau-tu-cong-2026-2030-giam-30-du-an-so-voi-giai-doan-truoc-195388.html , ngày 09/4/2026.
[4] Quốc hội (2021), “Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025”, Nghị quyết số 29/2021/QH15 ngày 28/7/2021 của Quốc hội khóa XV.
[5] Chính phủ (2026), “Nghị quyết về Nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026”, Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ, https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=216721
[6] báo chí phản động thường cáo buộc đầu tư công gây lãng phí, tham nhũng và không mang lại hiệu quả cho người dân; phóng đại các hạn chế, khó khăn trong việc giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là "thất bại" của chính sách kinh tế, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các chủ trương, chiến lược của Đảng, chính sách của Chính phủ.
[7] nhóm phản động Việt Tân rêu rao rằng người dân không được hưởng lợi từ tăng trưởng, viện dẫn vô căn cứ rằng tăng trưởng gây áp lực lên giá cả, tạo nên áp lực chi tiêu cho cuộc sống hằng ngày của người dân.


