QUAN ĐIỂM CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC
Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định vị trí và vai trò của khoa học đối với sự phát triển của đất nước, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản. Vì có nghiên cứu cơ bản mới tìm ra được những quy luật phát triển của tự nhiên, của xã hội và con người Việt Nam.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc, vị Tổng tư lệnh thiên tài của quân đội nhân dân Việt Nam, mà ông còn là một nhà lý luận sắc bén. Dưới lăng kính triết học, hệ thống quan điểm của Đại tướng về khoa học được xây dựng trên cơ sở triết học mác-xít, mang tính thực tiễn và nhân văn sâu sắc.
1. Thành tựu của khoa học cơ bản hôm nay là công nghệ và kỹ thuật của ngày mai
Nghiên cứu di sản lý luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có thể thấy rằng, quan điểm của ông về khoa học được định hình một cách nhất quán qua việc luận giải mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng trong hoạt động nhận thức. Dưới góc nhìn duy vật biện chứng, nghiên cứu khoa học cơ bản không phải là một công việc trừu tượng, xa rời thực tế, mà chính là quá trình đi sâu vào bản chất của đối tượng để phát hiện ra các quy luật khách quan chi phối sự vận động của thế giới. Đại tướng đã khẳng định tầm quan trọng mang tính sống còn này khi chỉ rõ: “chúng ta không một chút nào coi nhẹ nghiên cứu cơ bản, vì có nghiên cứu cơ bản mới tìm ra được những quy luật phát triển của tự nhiên, của xã hội và con người Việt Nam, tạo ra những cơ sở lý luận vững chắc cho nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai; vì chính nghiên cứu cơ bản là nguồn vô tận của những phát minh lớn, những sáng tạo lớn”[1].
Thông qua luận điểm này, Đại tướng đã phê phán một cách sâu sắc tư duy thực dụng trong công tác quản lý và làm khoa học. Theo đó, việc đánh giá hiệu quả của công tác khoa học không thể dựa trên các sản phẩm ứng dụng ngắn hạn mà bỏ qua hay không chú trọng đến cái gốc lý luận. Trong chỉnh thể của nền khoa học, kết quả nghiên cứu khoa học cơ bản đóng vai trò là hạ tầng tri thức, là cái nền móng vững chãi để từ đó các nhánh nghiên cứu ứng dụng và triển khai kế thừa, phát triển. Nếu ví khoa học như một cái cây, thì nghiên cứu cơ bản chính là bộ rễ cắm sâu vào lòng đất thực tại để hút chất dinh dưỡng lý luận; không có bộ rễ khỏe mạnh ấy, hệ thống khoa học sẽ rơi vào tình trạng thiếu gốc và không thể có được một nền khoa học bền vững.
Sự phát triển của khoa học còn được Đại tướng kiến giải thông qua mối quan hệ nhân – quả, trong đó nghiên cứu cơ bản đóng vai trò là nguyên nhân khởi thủy, là nguồn năng lượng nội sinh định hình nên mọi kết quả công nghệ trong tương lai. Đại tướng khẳng định: “Nghiên cứu cơ bản là cơ sở của toàn bộ nền khoa học, là nguồn gốc của tiến bộ khoa học-kỹ thuật. Thành tựu của khoa học cơ bản hôm nay là công nghệ và kỹ thuật của ngày mai”[2]. Những tri thức khoa học, những phát minh công nghệ hay các giải pháp kỹ thuật tiên tiến đang phục vụ đời sống hôm nay là kết quả của sự chuyển hóa vật chất, sự cụ thể hóa các nguyên lý, quy luật đã được khám phá từ các công trình nghiên cứu cơ bản trước đó. Việc nhận thức được mối quan hệ nhân quả này định hướng cho các nhà chiến lược vĩ mô thấy rõ rằng: muốn có một nền khoa học tiên tiến và phát triển trong tương lai thì phải bắt đầu từ việc đầu tư cho các nghiên cứu cơ bản từ ngày hôm nay.
Bên cạnh mối liên hệ giữa lý thuyết và ứng dụng, quan điểm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn thể hiện sự toàn diện khi xem xét tính chỉnh thể và vai trò định hướng giá trị của khoa học xã hội và nhân văn trong hệ thống khoa học quốc gia. Đối với ông, nền khoa học nước nhà không phải là những mảnh ghép rời rạc của các ngành khoa học độc lập. Đó phải là một hệ thống cấu trúc toàn diện, có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong hệ thống phức hợp đó, ông đưa ra luận điểm về vị trí và vai trò của các phạm vi khoa học cụ thể, “Khoa học nói ở đây bao gồm cả khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội, trong đó khoa học xã hội giữ vai trò chủ đạo”[3].

Việc khẳng định khoa học xã hội giữ vai trò "chủ đạo" cho thấy rằng, Đại tướng đã vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm duy vật lịch sử về vai trò của ý thức xã hội đối với sự phát triển xã hội. Khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật cung cấp cho con người công cụ, phương tiện vật chất và sức mạnh để cải tạo tự nhiên. Tuy nhiên, công cụ hay công nghệ tự thân nó không mang đặc tính thiện - ác; nếu thiếu đi sự định hướng, nó có thể bị sử dụng sai mục đích, dẫn đến nguy cơ tha hóa con người hoặc hủy hoại môi trường sinh thái. Cho nên, vai trò của khoa học xã hội và nhân văn cần phát huy được sứ mệnh định hình thế giới quan, nhân sinh quan, xây dựng nền tảng đạo đức và định hướng chính trị cho sự phát triển. Từ góc độ khoa học xã hội và nhân văn, các luận cứ, chỉ ra mục tiêu nhân văn cốt lõi cho mọi cuộc cách mạng kỹ thuật được nhận định rõ ràng. Đồng thời, từ đó định hướng phát triển công nghệ phải gắn liền với tiến bộ xã hội, giải phóng con người, đảm bảo cho mọi thành tựu khoa học luôn phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân và quốc gia, vì mục tiêu phát triển con người.
2. Định hướng cơ bản vào đối tượng cụ thể là con người và xã hội Việt Nam, tài nguyên và điều kiện nhiệt đới của nước ta
Khi bàn về định hướng phát triển của nền khoa học nước nhà, quan điểm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp thể hiện sự quán triệt sâu sắc nguyên lý về tính lịch sử - cụ thể của phép biện chứng duy vật. Triết học Mác - Lênin khẳng định rằng, không có một công thức khoa học nào mang tính vạn năng cho mọi quốc gia và mọi thời đại. Muốn có giá trị thực tiễn và sức sống khách quan, đối tượng nghiên cứu của khoa học bắt buộc phải gắn liền với không gian, thời gian và những đặc thù riêng biệt của dân tộc. Tầm nhìn chiến lược này được Đại tướng đúc kết rõ nét qua yêu cầu: “định hướng cơ bản vào đối tượng cụ thể là con người và xã hội Việt Nam, tài nguyên và điều kiện nhiệt đới của nước ta”[4]. Sự định vị này cho thấy khoa học không thể tồn tại như một tháp ngà lý thuyết xa xôi, mà phải tự soi chiếu vào chính thực thể quốc gia để xác định lối đi phù hợp.
Định hướng trên cũng là sự vận dụng nhuần nhuyễn luận điểm thực tiễn là cơ sở, động lực và mục tiêu của nhận thức. Nền khoa học Việt Nam phải tham gia trực tiếp để giải quyết các bài toán tồn sinh, thích ứng và phát triển của mình. Đó là những bài toán mang tính đặc thù lịch sử sâu sắc. Do đó, thực tiễn Việt Nam vừa là nguồn cung cấp câu hỏi và đòi hỏi nghiên cứu, vừa là thước đo nghiêm khắc nhất để đánh giá về kết quả nghiên cứu. Điểm cốt lõi trong tư duy nhân văn của Đại tướng là xác định đích đến của mọi hoạt động nhận thức và ứng dụng khoa học phải quay trở lại phục vụ, nâng cao chất lượng đời sống cho chính "con người Việt Nam".
Hơn thế nữa, quan điểm của Đại tướng còn thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa tự nhiên và xã hội. Ông không tách rời các quy luật tự nhiên khỏi các quy luật xã hội mà đặt con người, cộng đồng trong mối quan hệ hữu cơ, gắn liền với tài nguyên, khí hậu để tạo thành một chỉnh thể sinh thái - nhân văn thống nhất. Tư duy chỉnh thể này được ông nhấn mạnh rằng, “vì có nghiên cứu cơ bản mới tìm ra được những quy luật phát triển của tự nhiên, của xã hội và con người Việt Nam”[5]. Đối với mỗi quốc gia, một công trình khoa học thành công không thể chỉ thuần túy dựa trên các thông tin về điều kiện tự nhiên, mà còn phải dựa trên cơ sở về đặc điểm tâm lý, văn hóa, lịch sử và tập quán,…của xã hội Việt Nam. Sự gắn kết chặt chẽ này giúp khoa học Việt Nam tránh được cái nhìn phiến diện, một chiều, từ đó tạo ra những giải pháp phát triển bền vững.
3. Điều kiện cần để khoa học Việt Nam phát triển
Bên cạnh việc định hình cấu trúc và định hướng đối tượng nghiên cứu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn đưa ra những giải pháp mang tính đột phá về điều kiện phát triển khoa học, trước hết thông qua luận điểm khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp và việc tạo dựng động lực vật chất cho chủ thể sáng tạo. Đứng trên lập trường duy vật lịch sử, Đại tướng không nhìn nhận khoa học như một hoạt động tiêu dùng, mà coi đó là động lực cốt lõi thúc đẩy hạ tầng kinh tế. Cho nên, Đại tướng đưa ra nhận định “Muốn cho khoa học phát huy tác dụng thì cần phải đầu tư cho khoa học, về nhân lực, về vật chất kỹ thuật và tài chính cũng như đầu tư cho một ngành kinh tế quốc dân đặc biệt”[6].
Bằng cách định danh khoa học là "một ngành kinh tế quốc dân đặc biệt", Đại tướng đã chỉ ra rằng, lao động khoa học là loại hình lao động phức tạp, đòi hỏi hàm lượng tri thức, sự tích lũy chất xám và năng lực sáng tạo rất cao. Ông nhấn mạnh: “cần phải có chế độ trả công lao động khoa học tương xứng với hiệu quả mà lao động đặc biệt đó đem lại”[7] (tr.191). Việc "trả công lao động khoa học tương xứng" này là cơ chế tạo động lực vật chất chính đáng, thừa nhận giá trị đặc thù của lao động trí tuệ, từ đó giải phóng sức sản xuất của đội ngũ trí thức, biến các tiềm năng lý luận thành của cải vật chất trực tiếp cho xã hội.
Về mối quan hệ biện chứng giữa thượng tầng kiến trúc và hạ tầng, cần một động lực tinh thần quyết định sự hưng thịnh của nền khoa học, đó là môi trường thể chế dân chủ. Thượng tầng kiến trúc, bao gồm cơ chế quản lý, bầu không khí xã hội, luôn đóng vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, với năng lực sáng tạo của nhà khoa học. Nhận thức sâu sắc quy luật này, Đại tướng khẳng định: “Hoạt động khoa học - kỹ thuật đòi hỏi một môi trường thật sự dân chủ đối với tư duy khoa học, một môi trường xã hội thuận lợi, tôn trọng trí thức, khuyến khích nhân tài, thúc đẩy sự sáng tạo khoa học, sự tiếp thu và ứng dụng nhanh chóng, rộng rãi những thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống”[8].
Bản chất của khoa học là tìm kiếm chân lý, mà chân lý thì không thể nảy sinh từ sự rập khuôn hay áp đặt ý chí chủ quan. Vì vậy, để nghiên cứu khoa học phát triển, tư duy sáng tạo cần có không gian tự do học thuật và sự phản biện lành mạnh. Môi trường thể chế dân chủ là bệ đỡ giúp cho những tư tưởng khoa học tiên tiến được nảy mầm, đồng thời thúc đẩy việc tiếp thu, chuyển giao và ứng dụng nhanh chóng các thành tựu công nghệ hiện đại vào thực tiễn sản xuất và đời sống của nhân dân.
4. Kết luận
Các luận điểm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về khoa học là một chỉnh thể lý luận thống nhất, phản ánh một tư duy triết học biện chứng, tiên phong và mang tầm chiến lược. Thông qua việc kiến giải mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng, giữa nguyên nhân và kết quả, Đại tướng đã định vị xuất sắc vai trò nền tảng, gốc rễ của nghiên cứu cơ bản đối với sự phát triển công nghệ; đồng thời khẳng định tính chỉnh thể toàn diện của nền khoa học với vai trò định hướng giá trị cốt lõi của khoa học xã hội và nhân văn.
Đối với bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc gắn liền với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế tri thức – di sản tư tưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn nguyên vẹn giá trị thời sự và mang tính định hướng phương pháp luận sâu sắc.
Việc nhìn nhận rõ hơn quan điểm của Đại tướng về khoa học không chỉ nhằm khẳng định tầm vóc của một vĩ nhân, mà quan trọng hơn, là để tiếp lửa cho thế hệ trẻ hôm nay vững bước đi lên, biết dùng điểm tựa di sản tư tưởng của cha ông làm đòn bẩy đưa nền khoa học - công nghệ nước nhà bứt phá, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc và phát triển bền vững./.
Danh mục tài liệu tham khảo:
- Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo (2014), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
- Võ Nguyên Giáp (1977), Mấy vấn đề về cách mạng khoa học kỹ thuật ở nước ta, Nxb Sự thật, Hà Nội.
- Võ Nguyên Giáp (1978), Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp nước ta, Nxb Sự thật, Hà Nội.
- Võ Nguyên Giáp (1981), Thanh niên với cách mạng khoa học kỹ thuật, Nxb Thanh niên.
- Võ Nguyên Giáp (1986), Mấy vấn đề về khoa học và giáo dục, Nxb. Sự thật, Hà Nội.
- Bùi Thị Hà (2025), “Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số công trình nghiên cứu về khoa học - kỹ thuật”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 9, tr.87-95.
- Đặng Hữu (2013), “Tướng Giáp là người đặt nền móng cho khoa học Việt Nam”, Báo điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/tuong-giap-la-nguoi-dat-nen-mong-cho-khoa-hoc-vn-102150635.htm
[1] Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo (2014), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.30.
[2] Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo (2014), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.190.
[3] Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo (2014), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.189.
[4] Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo (2014), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.190-191.
[5] Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo (2014), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.30.
[6] Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo (2014), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.191.
[7] Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo (2014), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.191.
[8] Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự nghiệp khoa học, giáo dục và đào tạo (2014), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.192.


