Nguồn mạch lịch sử

PHÓ THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG TẠI HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ NĂM 1954: MINH CHỨNG SINH ĐỘNG VỀ BẢN LĨNH NGOẠI GIAO VIỆT NAM

Giang Minh • 06/09/2026 18:55

Hội nghị Giơnevơ năm 1954 là dấu mốc quan trọng trong lịch sử ngoại giao Việt Nam hiện đại. Thành công của Hội nghị không chỉ bắt nguồn từ thắng lợi quân sự, từ đường lối ngoại giao của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn từ bản lĩnh, trí tuệ, bản sắc ngoại giao Việt Nam qua Đoàn đại biểu của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng kiêm Quyền Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn đàm phán.

1. Hội nghị Giơnevơ năm 1954 - bước ngoặt của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kéo dài từ ngày 13/3/1954 đến ngày 7/5/1954 thắng lợi hoàn toàn với lá cờ “Quyết chiến, Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tướng Đờ Cátxtơri. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng lớn nhất, oanh liệt nhất, tiêu biểu cho tinh thần anh dũng, kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ. Chiến thắng lừng lẫy Điện Biên Phủ “đã được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa ở thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”[1].

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" đã đập tan hoàn toàn kế hoạch quân sự Nava của Pháp - Mỹ, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi.

Một ngày sau Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương khai mạc (8/5/1954). Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến tham dự Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương với vị thế của một dân tộc chiến thắng. Đây là lần đầu tiên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia một diễn đàn ngoại giao quốc tế lớn với tư cách một chủ thể độc lập. Hội nghị Giơnevơ diễn ra trong bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp. Đó là sự căng thẳng của Chiến tranh lạnh; Mỹ tìm cách can thiệp vào Đông Dương; Sự chi phối của các nước lớn; Những toan tính khác nhau giữa các bên. Mỹ là thành viên tham gia Hội nghị Giơnevơ, nhưng luôn vận động lập liên minh và dọa can thiệp quân sự trực tiếp nhằm phá Hội nghị, chuẩn bị điều kiện thuận lợi để nhảy vào Đông Dương thế chân Pháp.

Hội nghị Giơnevơ bàn về lập lại hòa bình ở Đông Dương - Ảnh tư liệu Bộ Ngoại giao. Nguồn: https://baochinhphu.vn/hiep-dinh-geneve-viet-nam-mem-deo-sang-suot-va-kien-dinh-trong-dam-phan-102240425163824965.htm
Hội nghị Giơnevơ bàn về lập lại hòa bình ở Đông Dương - Ảnh tư liệu Bộ Ngoại giao. Nguồn: https://baochinhphu.vn/hiep-dinh-geneve-viet-nam-mem-deo-sang-suot-va-kien-dinh-trong-dam-phan-102240425163824965.htm

Hội nghị Giơnevơ trải qua 75 ngày đàm phán căng thẳng và phức tạp. Một nội dung quan trọng của Hội nghị Giơnevơ là bàn về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Ngày 21/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, mở ra một trang mới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ bắt nguồn từ nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến vai trò nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phó Thủ tướng kiêm Quyền Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Văn Đồng trong quá trình đàm phán. Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần hình thành những đặc trưng cơ bản của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người định hình đường lối và bản lĩnh ngoại giao Việt Nam tại Hội nghị Giơnevơ

Thứ nhất, kiên định mục tiêu hòa bình gắn với độc lập dân tộc

Ngay từ khi thực dân Pháp có ý đồ quay lại xâm lược Đông Dương, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương giải quyết bằng các biện pháp hòa bình để tránh đổ máu. Ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 với Pháp, ta tạm thời hòa hoãn với Pháp, tránh được cuộc chiến đấu bất lợi phải chống lại nhiều kẻ thù cùng một lúc, giành thêm thời gian hòa bình cần thiết để củng cố chính quyền cách mạng, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, phát triển lực lượng vũ trang nhằm chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.

Sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định. Nhưng, thực dân Pháp ra sức phá hoại nhiều điều khoản của Hiệp định. Ở miền Bắc, thực dân Pháp chiếm đóng trái phép nhiều nơi và gây xung đột ở những nơi chúng chiếm đóng, như Nha Tài chính (27/3), gây xung đột ở Hòn Gai (29/3). Ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế... thực dân Pháp cho xe chạy khắp các phố, gây xô xát và cướp bóc tài sản của dân. Ở Miền Nam, thực dân Pháp tiếp tục càn quét, mở những cuộc tấn công quân dân ta với lí do xuyên tạc là Hiệp định Sơ bộ chỉ có hiệu lực từ vĩ tuyến 16 trở ra[2]. Trước nguy cơ một cuộc chiến tranh đến gần, cần có một quyết định nhanh chóng nhằm kéo dài thời gian hòa hoãn để xây dựng, củng cố thêm lực lượng cách mạng; làm cho nhân dân Pháp, nhân dân thế giới thấy rõ thiện chí hòa bình của Việt Nam và dã tâm xâm lược của Pháp. Vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện Chính phủ Pháp là Mute (Moutet) - Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại bản Tạm ước 14/9/1946.[3] Nội dung của Tạm ước là sự thỏa thuận tạm thời về một số vấn đề cấp bách có tính chất bộ phận; còn một hiệp định toàn diện sẽ được thương lượng trong những cuộc đàm phán đầu năm 1947. Trong “Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: với bản Tạm ước “Chính phủ Pháp đã thừa nhận rằng đồng bào Nam Bộ sẽ bỏ thăm để quyết định số phận của Nam Bộ” và “nhận thi hành mấy điểm chính sau này trong Nam Bộ:

1. Thả những đồng bào bị bắt về chính trị và vì kháng chiến.

2. Đồng bào Nam Bộ được quyền tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do viết báo, tự do đi lại,...

3. Hai bên đều thôi đánh nhau”[4].

Tạm ước 14/9/1946 là sự nhân nhượng cuối cùng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm cứu vãn tình thế hết sức khó khăn của đất nước. Nhưng, trong quá trình thương lượng, Việt Nam không thỏa hiệp các vấn đề nguyên tắc về độc lập và thống nhất quốc gia.

Trong suốt quá trình lãnh đạo kháng chiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương giải quyết cuộc chiến tranh bằng thương lượng hòa bình trong điều kiện có thể. Ngày 26/11/1953, trả lời báo Expressen (Thụy Điển) về vấn đề chấm dứt chiến tranh Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:

“Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra. Nhân dân Việt Nam phải cầm vũ khí anh dũng chiến đấu bảy, tám năm nay chống kẻ xâm lược chính để bảo vệ nền độc lập và quyền tự do được sống trong hòa bình. Hiện nay nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó”[5] và “Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thực sự của nước Việt Nam.

Nếu có những nước trung lập nào muốn cố gắng để xúc tiến việc chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam bằng thương lượng thì sẽ được hoan nghênh, nhưng việc thương lượng đình chiến chủ yếu là việc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Chính phủ Pháp”[6].

Tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo Expressen đã gây tiếng vang lớn tại Pháp và trên thế giới. Các đoàn thể nhân dân và nhiều nhà chính trị Pháp đòi Chính phủ Laniel tiến hành đàm phán với Chính phủ Hồ Chí Minh. Ngày 3/12 /1953, do sức ép của dư luận, Chính phủ Pháp phải Tuyên bố muốn biết lập trường của phía bên kia (tức Việt Minh) bằng con đường chính thức và tỏ ý sẵn sàng xem xét việc lập lại hòa bình, bảo đảm độc lập cho các quốc gia liên kết[7].

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm giải quyết xung đột bằng thương lượng hòa bình nhưng không đánh đổi độc lập dân tộc.

Thứ hai, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao

Chủ trương nhất quán của ta là hòa bình, coi trọng giải pháp ngoại giao, nhưng để tránh khuynh hướng ảo tưởng, ỷ lại vào giải pháp ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “phải đánh bao giờ cho đế quốc quỵ, nó biết không thể đánh được nữa, nó mới chịu đàm phán. Đừng có ảo tưởng mình muốn đàm phán là nó đàm phán”; [...] Mục đích của nó là xâm lược. Nó mất 99% còn hy vọng 1% nó vẫn đánh. Phải đánh nó quỵ nó mới chịu”[8].

Chủ trương “phải đánh cho Pháp quỵ mới đàm phán được" là biểu hiện tiêu biểu của tư duy "vừa đánh vừa đàm". Sau này, tư duy "vừa đánh vừa đàm" trở thành nét đặc sắc của ngoại giao Việt Nam.

Cuộc đấu tranh tại Hội nghị Giơnevơ kéo dài hai tháng rưỡi mới đi đến kết quả cuối cùng. Trong suốt thời gian Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Bộ Chính trị, Trung ương Đảng luôn theo dõi chặt chẽ và chỉ đạo sát sao quá trình đàm phán của đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bộ Chính trị và Hồ Chí Minh định hướng xử lý các vấn đề tại Hội nghị Giơnevơ như: đình chiến; giới tuyến; tổng tuyển cử; thống nhất đất nước.

Hội nghị Giơnevơ diễn ra hết sức phức tạp với sự đấu tranh quyết liệt của đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sự dàn xếp của các nước lớn, nhất là xung quanh vấn đề phân vùng đóng quân, vấn đề tổng tuyển cử và thống nhất nước Việt Nam, vấn đề các lực lượng kháng chiến ở Lào và Campuchia. Trong điều kiện lịch sử cụ thể lúc đó, theo xu thế chung giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới bằng thương lượng, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận ký Hiệp định Giơnevơ.

Những điều khoản quan trọng nhất của Hiệp định Giơnevơ chính là cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh tiếp theo chống đế quốc Mỹ xâm lược. Đó cũng là kết quả của đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến, đường lối đối ngoại dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với ý nghĩa đó, trong Lời kêu gọi Hội nghị Giơnevơ thành công, ngày 22/7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng to.”[9] Và Hồ Chí Minh là kiến trúc sư chiến lược của thắng lợi ngoại giao tại Giơnevơ.

3. Phạm Văn Đồng - Nhà ngoại giao bản lĩnh, trí tuệ tại Hội nghị Giơnevơ

Thứ nhất, kiên trì bảo vệ lập trường độc lập, chủ quyền và thống nhất dân tộc

Ngoại giao là một nghệ thuật đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ và sự uyên bác trong tư duy, khôn khéo, tinh tế trong ứng xử, hành động... Tất cả những yếu tố đó hội tụ đầy đủ ở nhà ngoại giao tài ba Phạm Văn Đồng. Chính vì vậy, Ông đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao đảm trách công tác ngoại giao ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập.

Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng (áo khoác trắng, đứng giữa ảnh) - Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Giơnevơ - Ảnh tư liệu. Nguồn: https://baochinhphu.vn/hiep-dinh-geneve-viet-nam-mem-deo-sang-suot-va-kien-dinh-trong-dam-phan-102240425163824965.htm
Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng (áo khoác trắng, đứng giữa ảnh) - Trưởng đoàn đàm phán của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Giơnevơ - Ảnh tư liệu. Nguồn: https://baochinhphu.vn/hiep-dinh-geneve-viet-nam-mem-deo-sang-suot-va-kien-dinh-trong-dam-phan-102240425163824965.htm

Với cương vị là Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Quyền Bộ trưởng Ngoại giao, Phạm Văn Đồng được Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam cử làm Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng đã trình bày lập trường 8 điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:

1. Pháp công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia.

2. Ký một hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam, Campuchia và Lào trong thời hạn do các bên tham chiến ấn định. Trước khi rút quân, đạt thỏa thuận về nơi đóng quân của lực lượng Pháp hay Việt Nam trong một số khu vực hạn chế.

3. Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong ba nước nhằm thành lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước.

4. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố ý định xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp và những điều kiện của việc gia nhập đó. Các Chính phủ Campuchia và Lào cũng ra những bản tuyên bố tương tự.

5. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Campuchia và Lào thừa nhận các quyền lợi kinh tế văn hóa của nước Pháp trong ba nước. Sau khi các Chính phủ duy nhất được thành lập, các quan hệ kinh tế và văn hóa được giải quyết theo đúng các nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.

6. Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh.

7. Trao đổi tù bình.

8. Các biện pháp nói trên sẽ được thực hiện sau khi đình chỉ chiến sự. Pháp và ba nước Đông Dương ký những hiệp định về từng nước trên cơ sở dưới đây:

a. Ngừng bắn trên toàn Đông Dương và đồng thời với việc điều chỉnh các lãnh thổ và khu vực mà các bên chiếm giữ.

b. Ngừng việc đưa bộ đội mới, vũ khí và đạn dược vào Đông Dương.

c. Thiết lập một hệ thống kiểm soát các Ủy ban liên hợp gồm các đại diện của các bên tham chiến[10].

Như vậy, nội dung chủ yếu của lập trường 8 điểm là đình chỉ chiến sự trên toàn bán đảo Đông Dương đi đôi với một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, vấn đề Lào và vấn đề Campuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước. Lập trường 8 điểm là nền tảng cho toàn bộ hoạt động của đoàn Việt Nam tại Hội nghị. Những đóng góp của đoàn đàm phán Việt Nam, đứng đầu là Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng đã tạo ra những đột phá đưa Hội nghị Giơnevơ tới thành công, ký kết các hiệp định đình chiến ở Đông Dương.

Thứ hai, bản lĩnh trong đấu tranh bảo vệ lợi ích dân tộc

Trong quá trình đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ, “sự khác biệt nhau về giới tuyến và thời hạn tái thống nhất là do ý đồ khác nhau của các bên, Mỹ - Pháp muốn nước ta chia cắt càng nhiều cho họ càng tốt, chia cắt càng kéo dài càng tốt cho họ. Pháp muốn chia cắt ở vĩ tuyến 18, Mỹ muốn chia cắt ở phía trên Đồng Hới. Phạm Văn Đồng đề nghị giới tuyến ở vĩ tuyến 13... Chu Ân Lai đề nghị vĩ tuyến 17 rất sớm”[11]. Đến ngày 13/7/1954, trong cuộc gặp Mendès France, Phạm Văn Đồng đề nghị giữ vĩ tuyến 16 làm giới tuyến, nghĩa là Việt Nam làm chủ con đường 9 từ Savanakhẹt đi Quảng Trị. Đến cuối phiên họp buổi chiều ngày 20 tháng 7, đại diện Việt Nam Phạm Văn Đồng mới chấp nhận vĩ tuyến 17. Thời hạn 2 năm tổ chức tổng tuyển cử cũng như những vấn đề khác của hiệp định đều phải giằng co, đặc biệt hiệp định về Campuchia đã ký vào cuối buổi sáng ngày 21 tháng 7[12]. Đây là kết quả của quá trình đấu tranh căng thẳng, không phải sự nhân nhượng đơn thuần.

Thứ ba, vận dụng linh hoạt nghệ thuật ngoại giao "dĩ bất biến, ứng vạn biến"

Trong quá trình đàm phán ở Hội nghị Giơnevơ, Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam Phạm Văn Đồng kiên định trong nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược; kết hợp đấu tranh công khai và đầu tranh nghị trường. Sau 75 ngày thương lượng, qua 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao đằng sau các hoạt động công khai, ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào và Campuchia chính thức được ký kết, thừa nhận và tôn trọng độc lập, chủ quyền của ba nước Đông Dương. Ngày 21/7/1954, các nước tham dự Hội nghị ra một bản Tuyên bố cuối cùng và ký các văn bản Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào và Campuchia, tạo nên khung pháp lý của Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương.

Thời điểm đó, quan hệ quốc tế vô cùng phức tạp. Đoàn đại biểu Việt Nam gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, không có thông tin… Đoàn đàm phán Việt Nam do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đứng đầu đã khắc phục khó khăn, có những đóng góp quan trọng, kiên trì tìm biện pháp bảo đảm lợi ích của đất nước, của cách mạng Đông Dương, của hai chính phủ kháng chiến Pathet Lào và Khmer Issarak. “Qua những phiên họp toàn thể và những cuộc họp hẹp rất căng thẳng và phức tạp, với tinh thần chủ động, kiên trì và khéo léo, Đoàn Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn đã góp phần tích cực đưa hội nghị đến thành công”[13].

Phạm Văn Đồng đã tỏ rõ là một nhà ngoại giao xuất sắc, có bản lĩnh, vừa giữ vững nguyên tắc, không khoan nhượng về mục tiêu đã đề ra, vừa linh hoạt, uyển chuyển trong hình thức, mềm dẻo trong phương pháp, kiên trì, khôn khéo đấu tranh từng bước, buộc đối phương phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào đàm phán và cơ bản phải thực thi những yêu cầu do ta đưa ra. Đây chính là phong cách ngoại giao Việt Nam mang dấu ấn Hồ Chí Minh.

Thứ tư, góp phần nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam

Ngoại giao không chỉ thu hẹp ở cuộc đấu tranh quanh bàn đàm phán, mà bao gồm cả việc đấu tranh ngoại giao về dư luận quốc tế trên báo chí, làm rõ sự thật trên chiến trường Việt Nam, lập trường chính nghĩa của ta, tranh thủ và thúc đẩy sự đồng tình ủng hộ của lực lượng hòa bình tiến bộ ở nước Pháp, châu Âu, Mỹ và thế giới.

Tranh thủ dư luận không chỉ làm với giới báo chí ở Giơnevơ, mà còn làm với quần chúng nhân dân Pháp, Thụy Sỹ, Châu Âu,... với kiều bào ta ở Pháp và với các nước khác. Hàng ngày, nhiều đoàn người từ Pháp kéo đến Giơnevơ yêu cầu gặp phái đoàn Việt Nam. Ta phải bố trí thêm một số buồng ở khác sạn Angleterre để đón tiếp, nghe những yêu cầu của khách và giải thích những thắc mắc khách nêu ra. Như vậy, bên cạnh ngoại giao nhà nước quanh bàn đàm phán còn diễn ra mặt trận ngoại giao nhân dân mà kết quả được thể hiện qua cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp đòi chấm dứt cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (sale guerre) của Pháp ở Việt Nam[14].

Có nhiều trường hợp, mặc dù đã được trả lời đầy đủ từ các thành viên cao cấp trong phái đoàn Việt Nam, một số vị khách vẫn yêu cầu gặp Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng để được giải thích thêm. Phạm Văn Đồng ít khi từ chối tiếp các nhân sĩ trí thức, các vị đứng đầu tổ chức quần chúng, các nhà báo tên tuổi. Qua các cuộc gặp gỡ với Phạm Văn Đồng và cách lý giải vấn đề sâu sắc, cách trình bày linh hoạt của Ông, mọi vấn đề trở nên sinh động, đầy tính thuyết phục.

Thắng lợi của Đoàn đàm phán Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn đã làm cho nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới biết đến Việt Nam, tin tưởng vào chính sách ngoại giao hòa bình và hữu nghị của Việt Nam, coi đó là một thành công rực rỡ của đường lối dùng đàm phán hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế. Thành công của Hội nghị Giơnevơ năm 1954 đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới cổ vũ và tôn vinh.

4. Giá trị và bài học đối với công tác đối ngoại hiện nay

Trong Lời nói đầu của cuốn sách ”Bác Hồ trong trái tim các nhà ngoại giao”, Phạm Văn Đồng đã viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng dân tộc kiệt xuất, nhà yêu nước vĩ đại, danh nhân văn hóa, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Mặt trận dân tộc thống nhất, các lực lượng vũ trang của nhân dân Việt Nam. Người còn là nhà ngoại giao lỗi lạc, tài ba. Đường lối chiến lược, sách lược ngoại giao và hoạt động quốc tế của Người là “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Người kiên trì đường lối độc lập tự chủ, khơi nguồn triệt để sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội”[16].

Hội nghị Giơnevơ năm 1954 - minh chứng sinh động về bản lĩnh ngoại giao Việt Nam, đó là: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc; Kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao; Kiên quyết về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược; Xử lý quan hệ với các nước lớn trong môi trường quốc tế phức tạp. Thắng lợi này đặt nền móng cho truyền thống ngoại giao Việt Nam hiện đại từ Giơnevơ (1954) đến Paris (1973); và đặc biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay.

Thứ nhất, kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc cao nhất. Mọi quyết sách đều phải lấy sự trường tồn, độc lập, chủ quyền, toàn vệ lãnh thổ và sự phồn vinh của đất nước làm mục tiêu tối thượng.

Thứ hai, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là chiến lược xuyên suốt. Trong đó, sức mạnh dân tộc (nội lực) đóng vai trò quyết định, còn sức mạnh thời đại (ngoại lực) đóng vai trò hỗ trợ quan trọng. Lấy tự chủ làm điểm tựa để chủ động hội nhập quốc tế.

Thứ ba, giữ vững độc lập, tự chủ trong hoạch định chính sách đối ngoại. Đây là đường lối chiến lược xuyên suốt, là nguyên tắc bất biến để bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc. Đường lối này dựa trên nền tảng “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Thứ tư, nâng cao năng lực đối ngoại trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Để làm được việc này trước hết phải kiên định đường lối độc lập, tự chủ. Cần đẩy mạnh đối ngoại toàn diện, linh hoạt, lấy lợi ích quốc gia dân tộc là tối thượng, đồng thời tích cực, chủ động tham gia các cơ chế đa phương để bảo vệ và nâng cao vị thế đất nước.

Thứ năm, tiếp tục phát huy trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Vận dụng linh hoạt nguyên lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Luôn đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, dựa trên nền tảng của hòa bình, hợp tác và thượng tôn luật pháp quốc tế.

5. Kết luận

Bài viết khẳng định: vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Giơnevơ năm 1954 không chỉ góp phần tạo nên thắng lợi ngoại giao quan trọng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà còn đặt nền móng cho sự hình thành bản sắc ngoại giao Việt Nam hiện đại. Bản lĩnh kiên định về mục tiêu, mềm dẻo về phương pháp, độc lập trong tư duy và sáng tạo trong hành động được thể hiện tại Giơnevơ đã trở thành những giá trị bền vững của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, tiếp tục được kế thừa và phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tài liệu tham khảo:

1.Nguyễn Đình Bin (Chủ biên): Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2005

2.Bộ Ngoại giao: Phạm Văn Đồng và ngoại giao Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội. 2006

3.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đảng toàn tập, tập 15 (năm 1954), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2001

4.Đảng Cộng sản Việt Nam: “Điện Biên Phủ, Hội nghị Giơnevơ - Văn kiện Đảng”, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 2014

5.Trần Bá Đệ : Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội. 2000

6. Lưu Văn Lợi: Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân. 2004

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8 (1953-1954), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 2011

8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9 (1954-1955), Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 2011

9. Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên): Lịch sử Việt Nam, tập 11, Nxb KHXH, Hà Nội. 2017

10. Hoàng Nguyên: Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, Nxb Công an Nhân dân. 2015.


[1] Lê Duẩn (1975), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, tr.50.

[2] Trần Bá Đệ (2000): Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 240.

[3] Trần Bá Đệ (2000), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 242-243.

[4] Hồ Chí Minh (2000), Lời tuyên bố với quốc dân sau khi đi Pháp về, Toàn tập, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 4, tr.419.

[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.340.

[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.340-341.

[7] Lưu Văn Lợi (2004), Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, tr. 150

[8] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr. 198.

[9] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.tr.1

[10] Lưu Văn Lợi (2004): Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nxb Công an nhân dân, tr.156-157.

[11] Lưu Văn Lợi: Người đã”cứu” Mendès France và Hiệp định Giơnevơ, dẫn theo: Bộ Ngoại giao (2006), Phạm Văn Đồng và ngoại giao Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội, tr.126.

[12] Nguyễn Văn Nhật (Chủ biên) (2017), Lịch sử Việt Nam tập 11, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.438.

[13] Nguyễn Mạnh Cầm: Đồng chí Phạm Văn Đồng - Người anh cả của ngành ngoại giao, dẫn theo: Bộ Ngoại giao (2006): Phạm Văn Đồng và ngoại giao Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội, tr.33.

[14] Bộ Ngoại giao (2006), Phạm Văn Đồng và ngoại giao Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.139.

[15] Nguyễn Đình Bin (Chủ biên) (2005), Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.141.

[16] ”Bác Hồ trong trái tim các nhà ngoại giao”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.7.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    PHÓ THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG TẠI HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ NĂM 1954: MINH CHỨNG SINH ĐỘNG VỀ BẢN LĨNH NGOẠI GIAO VIỆT NAM
    • Mặc định
    trống đồng