Phản bác các luận điệu lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng
Bảo vệ tự do tôn giáo chân chính cũng chính là bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự ổn định bền vững của đất nước.
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, nơi gần một phần ba dân số theo các tôn giáo khác nhau. Tôn giáo có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cá nhân và cộng đồng, đồng thời cũng có sức lan tỏa và ảnh hưởng xã hội sâu rộng. Chính vì lẽ đó, tôn giáo luôn bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước xem là “mặt trận mềm” để khai thác, lợi dụng nhằm chống phá Đảng và Nhà nước.
Căn cứ trên luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế, đặc biệt là Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948, các công ước quốc tế mà Việt Nam đã phê chuẩn, cũng như Hiến pháp năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh về đảm bảo quyền tự do tôn giáo, vừa tôn trọng tự do cá nhân vừa bảo đảm trật tự an ninh cộng đồng, hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Nhiều chính sách tôn giáo được thực hiện với phương châm “tốt đời đẹp đạo” mang lại bức tranh văn hóa Việt Nam đa sắc màu về sự thống nhất, đoàn kết tôn giáo khó có thể thấy tại nhiều nước trên thế giới. Thực tế cho thấy, không quốc gia nào trên thế giới có thể đảm bảo tự do tôn giáo tuyệt đối; ngay tại Hoa Kỳ, vấn đề tự do tôn giáo vẫn là chủ đề tranh luận hàng ngày. Nhiều quốc gia, bao gồm Pháp, Nga và các nước Châu Phi, đều có những hạn chế nhất định về tự do tôn giáo để đảm bảo an ninh quốc gia, phù hợp với Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.
Tuy nhiên, nhằm quốc tế hóa các vấn đề nội bộ của Việt Nam, gây mất ổn định và làm suy yếu tính chính danh chính trị của Nhà nước, dưới chiêu bài “bảo vệ tự do tôn giáo”, “quyền người bản địa” hay “bảo vệ văn hóa dân tộc thiểu số”, một số cá nhân, tổ chức quốc tế và lực lượng phản động lưu vong đã không ngừng chính trị hóa niềm tin tôn giáo, thổi phồng các vụ việc cục bộ thành “vấn đề nhân quyền”.
Nhìn lại lịch sử, việc lợi dụng tôn giáo để phục vụ mục đích chính trị không phải hiện tượng mới. Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ Hồ Chí Minh đã phải ban hành những quyết sách chống lại âm mưu lợi dụng niềm tin tôn giáo để gây dựng lực lượng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong suốt giai đoạn kháng chiến và thống nhất đất nước, các thế lực thù địch liên tục sử dụng chiêu bài tôn giáo để tập hợp lực lượng chống phá. Từ thời kỳ Đổi mới đến nay, khi Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, các phần tử thù địch càng coi tôn giáo và dân tộc là “mảnh đất màu mỡ” để gieo rắc tư tưởng phản kháng, ly khai, tự trị, vừa gây phá hoại từ bên trong vừa tạo áp lực ngoại giao từ bên ngoài.
Hệ quả nghiêm trọng nhất của âm mưu lợi dụng tôn giáo là sự xuất hiện các ý tưởng ly khai trên nhiều vùng trọng điểm của đất nước: "nhà nước Mông" ở Tây Bắc, "nhà nước Tin Lành Degar" ở Tây Nguyên, "vương quốc Chămpa" ở Nam Trung Bộ và "nhà nước Khmer Krom" ở Tây Nam Bộ. Những ý tưởng này lúc âm ỉ, lúc bùng phát thành hành động chống đối, thách thức chủ quyền lãnh thổ, ảnh hưởng tiêu cực đến khối đại đoàn kết dân tộc và an ninh quốc gia.
Các luận điệu lợi dụng tôn giáo mà các thế lực thù địch thường sử dụng có thể khái quát thành bốn nhóm chính:
Thứ nhất, cổ suý chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi dựa trên niềm tin tôn giáo, đề cao đến mức cực đoan lợi ích của một tộc người, kích động tư tưởng tách biệt, ly khai, đòi xây dựng nhà nước tự trị dựa trên một tôn giáo mới.
Thứ hai, xuyên tạc rằng “Việt Nam đàn áp, cấm đoán tôn giáo”, cố tình quy chụp công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thành “vi phạm tự do tôn giáo”.
Thứ ba, dụ dỗ đồng bào dân tộc thiểu số bằng những lời hứa hẹn hoang đường như “theo đạo mới sẽ có nhà nước riêng”, “không làm vẫn có ăn”, “ai không tin sẽ bị Chúa trừng phạt”, lợi dụng sự khó khăn về kinh tế và hạn chế về nhận thức của người dân vùng sâu, vùng xa.
Thứ tư, tìm mọi cách quốc tế hóa vấn đề tôn giáo, thông qua các tổ chức quốc tế và cơ chế nhân quyền để gây sức ép ngoại giao, vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền”.
Về phương thức hoạt động, các thế lực thù địch sử dụng nhiều hình thức kết hợp đa tầng; khai thác triệt để mạng xã hội và truyền thông số để phát tán video, hình ảnh, phóng sự xuyên tạc bằng nhiều ngôn ngữ nhằm kích động tâm lý bất mãn; gửi “báo cáo bóng tối” đến Liên Hợp Quốc, vận động nghị sĩ các nước phương Tây lên tiếng, cung cấp thông tin sai lệch cho các cơ quan soạn thảo báo cáo tự do tôn giáo quốc tế; lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới cực đoan để lôi kéo người tin theo, tập hợp lực lượng, tổ chức sinh hoạt tôn giáo bất hợp pháp lồng ghép nội dung chính trị; thậm chí, còn tạo nguyên cớ qua các vụ tranh chấp đất đai, dân sinh để kích động biểu tình, gây mất trật tự xã hội.
Để đấu tranh, phản bác hiệu quả các luận điệu lợi dụng tôn giáo, cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản. Mọi lập luận phản bác phải căn cứ trên luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế. Đồng thời, thực tế không quốc gia nào trên thế giới có thể đảm bảo tự do tôn giáo tuyệt đối; nhiều quốc gia còn có những hạn chế nhất định về tự do tôn giáo để đảm bảo an ninh quốc gia, phù hợp với Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị như đã nêu trên.
Về phương thức đấu tranh cụ thể, trước hết cần tích cực lên tiếng tại các diễn đàn ngoại giao và học thuật quốc tế, sử dụng quyền uy khoa học để xây dựng luận cứ vững chắc phản bác các cáo buộc sai trái. Cần tăng cường truyền thông đối ngoại, chủ động đưa thông tin trung thực bằng nhiều ngôn ngữ ra quốc tế, kịp thời phản bác các báo cáo có thông tin sai lệch. Trong nước, cần kết hợp “xây” và “chống”: “xây” là củng cố niềm tin của tín đồ và đồng bào dân tộc thiểu số vào chính sách của Đảng và Nhà nước; “chống” là nhận diện, bóc tách và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Đặc biệt, cần phát huy vai trò của Tôn giáo học như một công cụ khoa học sắc bén trong đấu tranh tư tưởng - lý luận. Các viện nghiên cứu và trường đại học cần chủ động xuất bản công trình khoa học bằng tiếng Việt và các ngôn ngữ quốc tế, phân tích và phản biện học thuật các luận điểm xuyên tạc về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu học thuật về chính sách tôn giáo, đào tạo đội ngũ chuyên gia có năng lực ngôn ngữ và am hiểu truyền thông quốc tế, mời học giả nước ngoài nghiên cứu khách quan về thực tiễn tôn giáo tại Việt Nam để tạo “minh chứng từ bên thứ ba”. Ở trong nước, Tôn giáo học cần lồng ghép truyền thông khoa học trên các nền tảng mạng xã hội, phổ biến tri thức để hình thành “hàng rào tri thức” giúp nhân dân tự đề kháng trước các luận điệu sai trái.
Qua đây cho thấy, tôn giáo đang trở thành một trong những “mặt trận mềm” nhạy cảm nhất mà các thế lực thù địch tìm cách khai thác để gây bất ổn, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, những hiện tượng lợi dụng tôn giáo chỉ là những mảnh vỡ cục bộ, không phản ánh bức tranh tôn giáo tổng thể của Việt Nam – nơi quyền tự do tín ngưỡng được Hiến pháp và pháp luật bảo đảm ngày càng toàn diện, nơi các tôn giáo đồng hành cùng dân tộc và đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Bảo vệ an ninh tôn giáo trong thời đại toàn cầu hóa là trách nhiệm của toàn xã hội. Khi niềm tin tôn giáo được đặt đúng vị trí – là nguồn lực văn hóa, là sức mạnh tinh thần, là động lực gắn kết cộng đồng – thì mọi âm mưu lợi dụng đều bị vô hiệu hóa. Bảo vệ tự do tôn giáo chân chính cũng chính là bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự ổn định bền vững của đất nước.


