"LÀNG DU LỊCH TỐT NHẤT THẾ GIỚI NĂM 2025": KHI Ý ĐẢNG THUẬN VỚI LÒNG DÂN
Mô hình du lịch cộng đồng ở Lô Lô Chải thành công nhờ sự hòa quyện giữa ý Đảng và lòng dân, tạo động lực phát triển và bảo vệ biên cương vững chắc.
Lô Lô Chải[1] được biết đến là làng văn hóa du lịch cộng đồng của tộc người Lô Lô, nằm dưới chân núi Rồng, nơi đặt cột cờ Lũng Cú - một di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh quốc gia có ý nghĩa linh thiêng, biểu tượng cho chủ quyền của Tổ quốc. Hành trình hơn 10 năm kể từ khi du lịch cộng đồng manh nha đến nay, ngôi làng nhỏ này đã trở thành điểm sáng du lịch. Cuối năm 2025, tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) đã bình chọn Lô Lô Chải là “Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025”.
1. Hành trình đi lên của làng du lịch tốt nhất thế giới
1.1. Văn hóa đặc sắc và điểm xuất phát của làng Lô Lô Chải
Xét về mặt địa lý và nhân văn, Lô Lô Chải là nơi biên cương cực Bắc của đất nước, là địa bàn cư trú lâu đời, gắn liền với lịch sử định cư hơn 200 năm của tộc người Lô Lô.
Lô Lô Chải nằm ở vùng địa hình đồi núi phức tạp, hiểm trở với khí hậu khắc nghiệt, thời tiết thất thường và dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi đã làm cho năng suất nông nghiệp bấp bênh. Hoạt động kinh tế của người dân mang tính chất thuần nông, phụ thuộc hoàn toàn vào phương thức sản xuất nông nghiệp tự cấp tự túc. Nguồn sinh kế nghèo nàn, lạc hậu nên tỷ lệ hộ nghèo luôn ở mức rất cao, cuộc sống của đồng bào bấp bênh. Tộc người Lô Lô tại đây cùng với các dân tộc thiểu số khác như Pu Péo, Bố Y, Cơ Lao được xếp vào diện các tộc người khó khăn đặc thù.
Dù đối mặt với sự thiếu thốn về cơ sở vật chất và kinh tế, cộng đồng người Lô Lô sở hữu một kho tàng di sản văn hóa truyền thống phong phú. Đó là những ngôi nhà trình tường bằng đất mang kiến trúc đặc sắc độc bản, những bộ trang phục truyền thống thêu tay cầu kỳ, cùng hệ thống tri thức dân gian, các làn điệu dân ca, dân vũ và các nghi lễ tín ngưỡng cổ xưa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Những tài nguyên nhân văn quý giá đó chính là “mỏ vàng” nội sinh đang tiềm ẩn, chờ đợi một định hướng chiến lược đúng đắn để thức tỉnh và chuyển hóa thành nguồn lực phát triển.

https://laodong.vn/du-lich/kham-pha/lang-lo-lo-chai-dep-me-man-tren-cao-nguyen-da-ha-giang-1443462.html
1.2. Chặng đường hơn 10 năm chuyển mình từ thôn bản nghèo khó thành điểm sáng toàn cầu
Hành trình thay da đổi thịt của Lô Lô Chải là một quá trình kiên trì, bền bỉ kéo dài hơn một thập kỷ, khởi nguồn từ khi hoạt động du lịch cộng đồng bắt đầu manh nha xuất hiện tại địa phương. Cột mốc quan trọng tạo tiền đề cho sự thay đổi là năm 2010, khi Cao nguyên đá Đồng Văn chính thức được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Công viên Địa chất toàn cầu. Sự kiện mang tầm quốc tế này đã mở ra những cơ hội chưa từng có, thu hút sự chú ý của du khách trong và ngoài nước đến với vùng đất biên cương.
Đến năm 2015, thôn Lô Lô Chải chính thức ghi nhận những đoàn khách lưu trú đầu tiên nhờ sự tiên phong, dũng cảm của các cán bộ, đảng viên tại cơ sở. Qua từng năm, mô hình du lịch cộng đồng tại đây liên tục được hoàn thiện, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ nhưng vẫn giữ vững được các giá trị cốt lõi của bản sắc văn hóa tộc người. Từ chỗ chỉ có một vài hộ gia đình làm du lịch tự phát, Lô Lô Chải đã từng bước phát triển thành một hệ sinh thái du lịch cộng đồng đồng bộ, chuyên nghiệp, thu hút sự tham gia tích cực của đông đảo các hộ dân trong thôn.
Trải qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, ngôi làng nhỏ từng bị cô lập bởi đói nghèo và địa hình chia cắt đã vươn mình trở thành một điểm sáng trên bản đồ du lịch. Sự phát triển ngoạn mục của Lô Lô Chải không chỉ dừng lại ở phạm vi một địa phương, một vùng miền hay trong nước, mà đã vươn tầm quốc tế.
1.3. Lô Lô Chải là "Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025"
Tại sự kiện bình chọn quy mô toàn cầu do Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) tổ chức, thôn Lô Lô Chải đã xuất sắc vượt qua 270 hồ sơ ứng viên nặng ký đến từ 65 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới để chính thức được vinh danh là “Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025”.
Thành quả này khẳng định rằng, bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Lô Lô không hề bị lu mờ hay đồng hóa trong xu thế hội nhập. Đây là kết quả tất yếu của hành trình kết tinh của sức mạnh “ý Đảng - lòng dân”, thể hiện hướng đi phù hợp giữa bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế thị trường.
2. Hệ thống chính sách của Đảng và vai trò hệ thống chính trị cơ sở
2.1. Các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho du lịch bền vững
Sự chuyển mình của mô hình du lịch cộng đồng tại thôn Lô Lô Chải được định hướng từ hệ thống các chủ trương, quyết sách, nghị quyết mang tính chiến lược, khoa học của Đảng và Nhà nước. Các văn kiện này được thiết kế dựa trên việc nghiên cứu kỹ lưỡng thực tiễn kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm khai thác một cách hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên nhân văn, văn hóa bản địa gắn liền với các tiềm năng sẵn có của địa phương.
Ngay sau khi Cao nguyên đá Đồng Văn đạt danh hiệu Công viên Địa chất toàn cầu vào năm 2010, tỉnh uỷ Hà Giang đã chủ động ban hành các chương trình hành động cụ thể như: Chương trình số 62-CTr/TU ngày 29/3/2013 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển văn hóa gắn với du lịch, giai đoạn 2013-2020; Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 6/10/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa Hà Giang giai đoạn 2021-2025,… cùng với Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 18/5/2023 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch bền vững, đã tạo hành lang pháp lý vững chắc và cơ chế mở, giúp cộng đồng dân cư ở các địa phương trong tỉnh cũng như khu vực biên giới tận dụng nguồn lực bên ngoài mà vẫn giữ vững vai trò chủ thể phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa.
Bên cạnh đó, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2025-2030, tỉnh Hà Giang xác định rõ mục tiêu đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ cho xu hướng tăng trưởng xanh và nâng cao toàn diện chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Bản chất của hệ thống chính sách này là luôn đặt nhân tố con người ở vị trí trung tâm, lấy sự đồng thuận của nhân dân kết hợp với sự định hướng của hệ thống chính trị làm yếu tố then chốt để biến các chủ trương thành hiện thực sinh động, biến các tiềm năng còn thành động lực phát triển kinh tế.
2.2. Vai trò lãnh đạo, dân vận khéo của hệ thống chính trị cơ sở trong việc đưa chính sách vào cuộc sống
Sự thành công của mô hình du lịch cộng đồng tại thôn Lô Lô Chải là minh chứng sinh động cho sự lãnh đạo sát sao, sáng tạo, linh hoạt và đầy trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương.
Để thay đổi tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy, chính quyền đã chủ động tổ chức cho các cán bộ của thôn, những người có uy tín lớn trong cộng đồng như Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn,... đi tham quan, học tập và trải nghiệm thực tế các mô hình du lịch cộng đồng đã thành công tại Sa Pa (tỉnh Lào Cai). Chuyến đi thực tế này đã mở ra một tầm nhìn mới, giúp các 'thủ lĩnh' cộng đồng nhận thấy rõ lợi ích thiết thực của du lịch và cách thức phát huy lợi thế từ di sản địa phương.
Khi trở về, chính những người cán bộ, đảng viên tại cơ sở đã phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu theo đúng phương châm “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Năm 2015, đồng chí Bí thư Chi bộ và Trưởng thôn Sinh Dỉ Gai đã mạnh dạn, tiên phong cải tạo chính ngôi nhà của gia đình mình để làm homestay đón những người khách du lịch đầu tiên. Sự mạnh dạn và thành công ban đầu của các đồng chí đảng viên đã trở thành những tấm gương thực tiễn trực quan, sinh động nhất, giúp giải tỏa mọi sự hoài nghi, lo lắng của bà con dân bản, từ đó dẫn dắt, khích lệ cộng đồng thay đổi tư duy, cùng nhau đoàn kết làm theo.
Trên cơ sở xác định chủ thể văn hóa sẽ quyết định thành công của mô hình du lịch cộng đồng, hệ thống chính trị cơ sở đã kết nối và tổ chức các lớp học nghề phục vụ du lịch ngay tại thôn Lô Lô Chải, thu hút đông đảo các hộ dân tham gia. Liên tiếp các năm 2017, 2018, Trung tâm giáo dục thường xuyên đã mở các lớp dạy nghề và cấp chứng chỉ cho 25 học viên lớp chế biến món ăn; 25 học viên lớp nghiệp vụ lễ tân; 30 học viên lớp thêu, dệt thổ cẩm. Chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội cùng người dân luôn tích cực quảng bá hình ảnh du lịch, khôi phục và duy trì các sản phẩm thủ công truyền thống tại làng nghề thêu trang phục dân tộc Lô Lô. Trưởng thôn Sình Dỉ Gai thường xuyên sử dụng công nghệ giới thiệu giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc Lô Lô để thu hút du khách đến Lũng Cú và Lô Lô Chải.
Đồng thời, để nâng cao hiệu quả, quảng bá và lưu giữ các giá trị văn hóa Lô Lô, hàng năm xã kết hợp với thôn tổ chức Lễ cúng Tổ tiên dân tộc Lô Lô. Qua đó, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể quốc gia, quảng bá hình ảnh Lễ cúng Tổ tiên của dân tộc Lô Lô đến với người dân, khách du lịch trong và ngoài nước.

https://special.nhandan.vn/Doc-dao-le-cung-to-tien-cua-nguoi-lolo/index.html
Đặc biệt, trước làn sóng chuyển đổi số mạnh mẽ, chính quyền cơ sở đã nhanh chóng thành lập Tổ công nghệ số cộng đồng trực tiếp đến từng nhà để hướng dẫn, giúp đỡ người dân tiếp cận và làm chủ công nghệ. Sự nhạy bén này đã giúp đồng bào Lô Lô biết ứng dụng mạng internet, lập trang web, sử dụng mã QR code trong thanh toán dịch vụ và giao dịch thương mại, biến Lô Lô Chải trở thành một “điểm đến du lịch thông minh”, thúc đẩy tính chuyên nghiệp của các dịch vụ địa phương lên một tầm cao mới.
3. Sự đồng thuận của người dân và các minh chứng sinh động từ thực tiễn
3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các số liệu ấn tượng về giảm nghèo, thu nhập, lượng khách
Khi các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng đi vào cuộc sống và nhận được sự đồng thuận, chung sức chung lòng của nhân dân, nó đã tạo ra một nguồn sức mạnh nội sinh vô cùng to lớn, làm thay đổi sâu sắc diện mạo kinh tế - xã hội của thôn Lô Lô Chải. Sự thay đổi rõ nét nhất là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mang tính bước ngoặt. Từ mô hình kinh tế thuần nông, phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp tự cấp tự túc, Lô Lô Chải đã chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình kinh tế nông nghiệp kết hợp đa dạng với dịch vụ du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng.
Sự chuyển dịch này không làm mất đi ngành sản xuất truyền thống mà tạo ra tính đa dạng, bền vững trong sinh kế của người dân. Thu nhập từ hoạt động du lịch giúp các hộ gia đình nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và có thêm nguồn lực kinh tế để tái đầu tư vào sản xuất nông nghiệp cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc mình.
Hiệu quả kinh tế - xã hội của mô hình này được chứng minh một cách thuyết phục bằng những con số thống kê thực tế vô cùng ấn tượng qua các năm:
| Chỉ số kinh tế - xã hội | Năm 2023 | Năm 2024 | Tháng 5/2025 |
| 14,4 | 3,3 | — | |
| Tỷ lệ hộ cận nghèo trong thôn | 4,2 | 3,3 | — |
| Tỷ lệ hộ đạt mức thu nhập trung bình và khá | 81,4 | 93,3 | — |
| Tổng số hộ dân tham gia kinh doanh homestay | — | — | 50 / 120 hộ (41,7%) |
| Tổng lượt khách du lịch đến ăn, nghỉ tại thôn | — | 5.457 đoàn với 28.974 lượt khách | — |
| Ước tính doanh thu từ dịch vụ lưu trú | — | Trên 4 tỷ đồng | — |
Những con số biết nói này là minh chứng sinh động cho thấy công tác dân vận khéo léo đã khơi dậy ý thức tự giác, biến người dân thành chủ thể chủ động kiến tạo cuộc sống mới.
3.2. Tính chủ thể và sự chủ động của người dân trong bảo tồn văn hóa, kiến trúc nhà trình tường
Một trong những thành công mang tính cốt lõi và là bài học kinh nghiệm quý báu nhất của mô hình Lô Lô Chải chính là việc phát huy tính chủ thể và sự chủ động của người dân trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người. Sự chủ động này được thể hiện rõ nét qua các hành động thiết thực hằng ngày của người dân trong bản.
Trong kiến trúc và cảnh quan bản làng: Người dân đã tự giác, chủ động gìn giữ và cải tạo các ngôi nhà truyền thống của gia đình mình đảm bảo tiêu chí sạch sẽ, vệ sinh, tiện nghi để phục vụ khách lưu trú nhưng kiên quyết giữ nguyên vẹn kiến trúc nhà trình tường độc đáo. Trong quá trình tu sửa, dưới sự định hướng kỹ thuật của chính quyền, các hộ dân đã có những sáng kiến tinh tế như trát lại tường nhà bằng hỗn hợp đất trộn keo đặc biệt để tăng độ bền, lợp mái bằng ngói âm dương truyền thống. Những việc làm này vừa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật của một cơ sở lưu trú hiện đại, vừa bảo tồn một cách nguyên bản, trọn vẹn cái "hồn cốt" của những căn nhà trình tường cổ kính, giữ gìn không gian làng bản gắn liền với lịch sử định cư hơn hai thế kỷ của người Lô Lô.
Trong tổ chức sản xuất và phát triển dịch vụ: Người dân chủ động tự quy hoạch riêng các khu vực trồng rau sạch, khu vực chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung. Sự chủ động này đã tạo nên một chuỗi liên kết bền vững, khép kín giữa hoạt động du lịch và sản xuất nông nghiệp, hình thành nên hệ thống cung ứng nguồn thực phẩm tại chỗ an toàn, chất lượng cao cho các hộ gia đình kinh doanh homestay, từ đó nâng cao tính chuyên nghiệp và uy tín cho thương hiệu du lịch Lô Lô Chải.
Đồng bào Lô Lô đã tích cực, chủ động học hỏi các kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ lễ tân, phục vụ buồng phòng để làm hài lòng du khách. Đồng thời, họ chủ động khôi phục và phát triển các sản phẩm đặc sản mang đậm tính văn hóa bản địa như kỹ thuật nấu rượu ngô, rượu tam giác mạch, chế biến các món ăn truyền thống, khôi phục làng nghề thêu thùa trang phục dân tộc để tạo ra các sản phẩm lưu niệm độc đáo.
Trong ứng dụng công nghệ và truyền thông: Điển hình như cá nhân đồng chí Trưởng thôn Sình Dỉ Gai cùng nhiều bạn trẻ trong thôn đã tích cực, chủ động sử dụng các thiết bị công nghệ hiện đại, mạng xã hội để giới thiệu, quảng bá một cách trực quan các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc mình, thu hút du khách đến với Lũng Cú và Lô Lô Chải. Trên nền tảng số, mỗi một người dân Lô Lô, từ cụ già đến em nhỏ, đã tự tin trở thành một "đại sứ du lịch", trực tiếp kể câu chuyện văn hóa, lịch sử sống động của tộc người mình cho bạn bè quốc tế nghe.
3.3. Tiếp nhận và phát huy hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài
Sự thành công của mô hình du lịch cộng đồng Lô Lô Chải còn nằm ở khả năng ứng xử thông minh, khoa học của cộng đồng trước các nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài. Thực tế phát triển của thôn cho thấy, bên cạnh nội lực của người dân và sự hỗ trợ của Nhà nước, Lô Lô Chải đã từng đón nhận những nguồn lực giúp đỡ rất quý báu từ các nhà đầu tư, các cá nhân và tổ chức quốc tế khi họ bị chinh phục bởi giá trị văn hóa và kiến trúc đặc sắc của ngôi làng.
Một câu chuyện điển hình, mang tính biểu tượng tại đây là sự giúp đỡ của ông Ogura Yasushi – tình nguyện viên người Nhật Bản. Vào năm 2014, ông Yasushi đã chủ động hỗ trợ kinh phí và kỹ thuật cho một hộ gia đình người bản địa để mở quán “Cà phê Cực Bắc”. Theo chia sẻ của anh Dìu Dỉ Chiến, chủ nhân hiện tại của quán, trong suốt quá trình hợp tác, người bạn Nhật Bản chủ yếu tập trung tài trợ, đầu tư về mặt cơ sở vật chất ban đầu, đồng thời thực hiện chuyển giao một cách bài bản các kiến thức, kỹ năng quản lý dịch vụ tiên tiến. Sau khi hoàn thành việc chuyển giao, toàn bộ quy trình vận hành, quản trị quán cà phê đều được trao lại hoàn toàn cho người dân bản địa tự chủ động thực hiện theo phương thức quản lý phù hợp với đặc thù văn hóa của địa phương.
Sự phát triển của Lô Lô Chải cho thấy một tư duy biện chứng, linh hoạt và bản lĩnh trong việc vận dụng lý luận vào thực tiễn. Qua lăng kính du lịch, bản sắc văn hóa Lô Lô có thêm cơ hội để khẳng định giá trị, đánh thức niềm tự hào dân tộc sâu sắc trong lòng mỗi người dân và trở thành một bộ phận không thể tách rời của sức mạnh văn hóa quốc gia.
3.4. Lô Lô Chải như một "cột mốc mềm"
Bên cạnh những giá trị to lớn về mặt kinh tế, văn hóa và xã hội, sự phát triển bền vững của mô hình du lịch cộng đồng Lô Lô Chải còn mang một ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng về mặt quốc phòng, an ninh tại vùng biên cương cực Bắc của Tổ quốc. Sự thành công của mô hình này đã hiện thực hóa sinh động mối quan hệ hài hòa, gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với trách nhiệm bảo tồn di sản văn hóa và giữ vững chủ quyền, an ninh chính trị vùng biên giới quốc gia.
Mỗi ngôi nhà trình tường được bảo tồn, mỗi nương ngô xanh tốt, mỗi hộ gia đình homestay khang trang và mỗi người dân Lô Lô mến khách, tự tin làm du lịch giàu có chính là một "cột mốc mềm" vững chắc, khẳng định chủ quyền biên giới quốc gia một cách bền vững nhất. Sự ổn định về kinh tế và sự vững vàng về chính trị của cộng đồng dân cư nơi đây chính là bức tường thành kiên cố nhất, là trụ cột vững chắc trong mọi hoàn cảnh lịch sử.
4. Kết luận: Động lực cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Câu chuyện thành công vang dội của mô hình du lịch cộng đồng tại thôn Lô Lô Chải là minh chứng thực tiễn sinh động, đầy thuyết phục cho chân lý: Ở đâu có “ý Đảng thuận với lòng dân”, ở đó có sự phát triển bền vững. Bản chất của mối quan hệ này tại Lô Lô Chải không phải là những khẩu hiệu mang tính lý thuyết, trừu tượng, mà là những bước đi bài bản, những cơ chế chính sách thấu tình đạt lý của Đảng, sự dấn thân tiên phong của các đảng viên cơ sở và những con số ấn tượng về tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, bảo tồn di sản. Trong mô hình này, “ý Đảng” không mang tính áp đặt, khiên cưỡng mà đóng vai trò là kim chỉ nam, là bệ đỡ chính sách và động lực định hướng; còn “lòng dân” không ở trạng thái thụ động, ỷ lại mà thực sự trở thành vị trí trung tâm, là chủ thể chủ động quyết định mọi sự chuyển biến, phát triển của bản làng./.
Tài liệu tham khảo
- Sỹ Hào (2026), Đánh thức “mỏ vàng” văn hóa vùng dân tộc thiểu số, trên trang: https://vietnamnet.vn/nghi-quyet-80-danh-thuc-mo-vang-van-hoa-vung-dan-toc-thieu-so-2507688.html, truy cập ngày 21/4/2026.
- Trần Thị Mai Lan - Đoàn Việt (2020), Sinh hoạt văn hóa của hai dân tộc Lô Lô và Cơ Lao ở vùng biên giới tỉnh Hà Giang, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Trần Hồng Thu (2025), Văn hóa của các cộng đồng cư dân vùng biên giới đất liền Việt Nam hiện nay trong phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, chính trị, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ, Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
- Hồ Chí Minh - Toàn tập (2011), Tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
- Huyện ủy Đồng Văn (2025), Báo cáo Kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU ngày 2/8/2021 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch Hà Giang, giai đoạn 2021-2025, số 1424-BC/HU.
- Huyện ủy Đồng Văn (2025), Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-TU, ngày 26/11/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Công viên Địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến 2030, số 1423-BC/HU.
- Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang (2014), Quyết định Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Giang Đến năm 2020, định hướng đến 2030, số 1646/QĐ-UBND, ngày 20/8/2014.
- Uỷ ban Nhân dân xã Lũng Cú (2024), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng-an ninh năm 2024; phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.
[1] Lô Lô Chải là một thôn thuộc xã biên giới Lũng Cú, trước đây thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nay là tỉnh Tuyên Quang.


