Khoa học xã hội và nhân văn trong kỷ nguyên mới
Khoa học xã hội và nhân văn là công cụ tư tưởng sắc bén, vũ khí lý luận trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, tư vấn chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

1. Những thành tựu cơ bản của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam
1.1. Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối đổi mới của Đảng
Thành tựu nổi bật đáng chú ý của khoa học xã hội và nhân văn là đóng góp vào việc xây dựng luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1986 đến nay. Các công trình nghiên cứu về triết học, kinh tế chính trị, xã hội học, luật học cũng như các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác đã cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho các quyết sách lớn, từ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đến phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi bước ngoặt tư duy lý luận của Đảng đều có dấu ấn đóng góp của giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.
1.2. Góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia
Trong lĩnh vực bảo vệ chủ quyền quốc gia, các nhà nghiên cứu lịch sử, Hán Nôm và khảo cổ học đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Những công trình về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông không chỉ là thành tựu học thuật thuần túy, mà còn là những luận chứng lịch sử, pháp lý có giá trị to lớn, góp phần khẳng định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta trên trường quốc tế. Đây là loại đóng góp mà không một ngành khoa học nào khác có thể thay thế được.
1.3. Cung cấp luận cứ hoạch định chiến lược, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
Về phát triển kinh tế - xã hội, các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đã kịp thời cung cấp luận cứ cho việc điều chỉnh mô hình tăng trưởng, xác định các động lực tăng trưởng mới hướng tới kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Những phát hiện về phân tầng xã hội, biến đổi dân số, an sinh xã hội đã trực tiếp phục vụ hoạch định chính sách, góp phần bảo đảm công bằng và an toàn xã hội trong quá trình phát triển. Trong lĩnh vực văn hóa, các nghiên cứu về di sản vật thể và phi vật thể, về ngôn ngữ và văn hóa các dân tộc thiểu số, về giao lưu tiếp biến văn hóa đã đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, xây dựng sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam.
2. Vai trò tư vấn chiến lược của khoa học xã hội và nhân văn trong kỷ nguyên mới
2.1. Những yêu cầu đặt ra trong kỷ nguyên mới
Kỷ nguyên mới mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đại hội XIV của Đảng đề cập không đơn thuần là sự tiếp nối của giai đoạn trước, mà là một bước nhảy vọt về chất, đặt mục tiêu tổng quát là xây dựng đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đây là kỷ nguyên mà Việt Nam đứng trước cơ hội lịch sử, kỷ nguyên bứt phá vươn lên, hoàn thành mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới với tư duy lãnh đạo, quản trị quốc gia và nghiên cứu khoa học. Trong bối cảnh đó, vai trò tư vấn chiến lược của khoa học xã hội và nhân văn không giới hạn ở việc giải thích những gì đã xảy ra hay mô tả thực trạng xã hội, mà phải tiên phong trong dự báo xu hướng, xây dựng mô hình phát triển mới, cung cấp các luận cứ khoa học cho những quyết sách mang tầm chiến lược, đồng thời tham gia sâu hơn vào quá trình thiết kế và thực thi chính sách.
2.2. Các trụ cột của vai trò tư vấn chiến lược trong kỷ nguyên mới
2.2.1. Tư vấn xây dựng và hoàn thiện lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Đây là nhiệm vụ cốt lõi, có tính nền tảng và lâu dài nhất. Trong kỷ nguyên mới, với sự xuất hiện ngày càng nhiều các tư tưởng, học thuyết khác nhau trên thế giới và sức tấn công của các luận điểm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, khoa học xã hội và nhân văn phải tiên phong trong việc bảo vệ, phát triển và làm phong phú thêm hệ thống lý luận Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện Việt Nam hiện đại. Cần xây dựng được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, thuyết phục về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, không mô phỏng bất kỳ mô hình của quốc gia nào. Nền tảng đó phải được xây dựng trên ba cấu phần: Chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới; kế thừa và phát huy cao độ truyền thống tốt đẹp của dân tộc; tiếp thu tinh hoa văn hóa và thành tựu phát triển mới của nhân loại.
2.2.2. Tư vấn chiến lược cho phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là nghiên cứu, hoàn thiện mô hình phát triển đất nước
Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình phát triển với quan điểm chuyển từ “ổn định để phát triển” sang “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước”[1].
Mô hình phát triển đất nước được xây dựng trên cơ sở cấu trúc ba vòng đồng tâm, thể hiện sự thống nhất biện chứng: Mô hình tăng trưởng là vòng tròn trung tâm tập trung vào lĩnh vực kinh tế; Mô hình phát triển là vòng tròn mở rộng bao trùm toàn diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; Mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam là vòng tròn bao quát nhất, thể hiện bản chất và định hướng chiến lược của con đường phát triển Việt Nam.
Các nhà khoa học xã hội và nhân văn cần đứng ở vị trí tiền tiêu trong nghiên cứu các mô hình kinh tế mới, các cơ chế quản trị tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam. Cụ thể, cần nghiên cứu sâu về các giải pháp thoát bẫy thu nhập trung bình; về mô hình kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn phù hợp với điều kiện và đặc thù Việt Nam; về cơ chế phân bổ nguồn lực hiệu quả, chống lãng phí và tham nhũng thể chế; về các chính sách thu hút và phát triển nhân tài trong kỷ nguyên số. Khoa học xã hội và nhân văn phải giải quyết các vấn đề xã hội và con người trong kỷ nguyên số, đồng thời phải là lực lượng sản xuất đặc biệt để phát triển đất nước.
2.2.3. Tư vấn cho chiến lược phát triển con người Việt Nam toàn diện
Kỷ nguyên mới đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, kỹ năng cho con người Việt Nam, Đại hội XIV đã chỉ rõ, cần “phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”[2]. Trong bối cảnh chuyển đổi số, khoa học xã hội và nhân văn cần nghiên cứu và tư vấn về hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới; về giáo dục toàn diện phát triển nhân cách; về bảo vệ văn hóa dân tộc trước làn sóng đồng hóa văn hóa toàn cầu; về bảo vệ an ninh tư tưởng trong môi trường số.
2.2.4. Tư vấn cho chính sách đối ngoại, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia
Trong bối cảnh địa chính trị thế giới biến động phức tạp, Việt Nam cần duy trì và nâng cao chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Khoa học xã hội và nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong dự báo xu hướng quan hệ quốc tế, phân tích chiến lược của các nước lớn, cung cấp luận cứ cho các quyết sách ngoại giao nhạy cảm. Các nghiên cứu về lịch sử, pháp lý và địa chính trị liên quan đến Biển Đông cần được tiếp tục đẩy mạnh để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Đảng đã bổ sung việc đẩy mạnh “đối ngoại, hội nhập quốc tế” thành nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” bên cạnh tăng cường quốc phòng, an ninh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”[3]. Trong bối cảnh đó, khoa học xã hội và nhân văn cần phát huy hơn nữa vai trò trong việc nghiên cứu, khẳng định và lan tỏa sức mạnh mềm, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.
2.2.5. Tư vấn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch
Trong kỷ nguyên số, thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc và các tư tưởng thù địch lan tràn với tốc độ chưa từng thấy. Khoa học xã hội và nhân văn phải đứng ở tuyến đầu trong cuộc chiến tư tưởng này, không chỉ bằng cách phòng thủ phản bác, mà bằng cách chủ động xây dựng một hệ thống lý luận sâu sắc, hấp dẫn, thuyết phục và có sức sống mạnh mẽ để tạo sự tin tưởng của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
3. Yêu cầu nâng cao năng lực khoa học xã hội và nhân văn dưới sự lãnh đạo của Đảng
3.1. Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học xã hội và nhân văn
Sự lãnh đạo của Đảng đối với khoa học xã hội và nhân văn là nhân tố quyết định, bảo đảm khoa học xã hội và nhân văn phát triển đúng định hướng chính trị và phục vụ thiết thực lợi ích của nhân dân và đất nước. Trong kỷ nguyên mới, sự lãnh đạo đó cần được đổi mới về phương thức để phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu khoa học. Đặc biệt, cần định hướng chiến lược, tạo điều kiện và đặt hàng các vấn đề nghiên cứu phục vụ yêu cầu thực tiễn của đất nước. Thể chế hóa nhanh chóng và đồng bộ các chủ trương của Đảng về khoa học xã hội và nhân văn thành hệ thống pháp luật và chính sách cụ thể. Tạo môi trường tự do học thuật đồng thời với tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.
3.2. Đổi mới thể chế và cơ chế quản lý khoa học
Nghị quyết số 57-NQ/TW đã giải quyết những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay về cơ chế quản lý hành chính. Không giống như các dự án kỹ thuật có thể định lượng đầu ra rõ ràng, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đòi hỏi thời gian, sự tự do học thuật và khả năng đặt những câu hỏi trái chiều để tìm ra sự thật. Về môi trường học thuật, cần tiếp tục phát huy dân chủ, tự do sáng tạo trong nghiên cứu khoa học trên nền tảng kiên định lý tưởng chính trị và trách nhiệm xã hội: “Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng, học thuật, thực hành dân chủ trong hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tạo môi trường, điều kiện và động lực để phát huy vai trò, sự cống hiến đặc biệt quan trọng của đội ngũ trí thức”[4].
Cần đơn giản hóa triệt để thủ tục hành chính và quy trình tài chính trong nghiên cứu khoa học; trao quyền tự chủ thực sự cho các tổ chức khoa học xã hội và nhân văn hàng đầu như Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trong việc quyết định chương trình nghiên cứu trọng điểm, phân bổ kinh phí và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia; xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng nghiên cứu dựa trên tiêu chuẩn quốc tế, coi trọng chất lượng và tác động xã hội hơn là số lượng đề tài nghiệm thu.
3.3. Xây dựng đội ngũ nhà khoa học đủ tầm, đủ lực
Trước nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, đặc biệt ở cán bộ kế cận, cần xây dựng một chiến lược tổng thể về phát triển nhân lực khoa học xã hội và nhân văn với ba trụ cột: đào tạo trong nước theo chuẩn mực quốc tế và cử đi đào tạo ở nước ngoài; thu hút nhân tài từ các cộng đồng quốc tế cũng như học giả người Việt ở nước ngoài; và xây dựng chính sách trọng dụng nhân tài trong nước với điều kiện làm việc và đãi ngộ cạnh tranh. Đặc biệt, cần xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo thành hệ sinh thái học thuật có tính liên kết, hỗ trợ lẫn nhau. Cùng với đó, cần tạo điều kiện để các cán bộ khoa học xã hội và nhân văn đi thực tế ở các địa phương để nâng cao kiến thức thực tiễn.
Chương trình đào tạo nghiên cứu sinh và thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn cần đổi mới phương pháp và công cụ nghiên cứu; tăng cường năng lực nghiên cứu thực chứng, phương pháp định lượng và khả năng phân tích dữ liệu lớn; khuyến khích nghiên cứu liên ngành giữa khoa học xã hội và nhân văn với khoa học công nghệ và kỹ thuật; hợp tác nghiên cứu tại nước ngoài trong thời gian đào tạo.
3.4. Đầu tư chiến lược và tăng cường hội nhập quốc tế
Mức đầu tư cho khoa học xã hội và nhân văn hiện nay vẫn còn rất thấp so với tầm quan trọng chiến lược của lĩnh vực này. Cần tăng đáng kể tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, đưa tỷ lệ này tiến gần đến mức trung bình của thế giới. Cần huy động nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp, từ các tổ chức phi chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế vào khoa học xã hội và nhân văn. Đặc biệt, cần ưu tiên đầu tư cho hệ thống cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản quốc gia, đây là nền tảng không thể thiếu cho mọi nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có giá trị.
Về hội nhập quốc tế, cần xây dựng chiến lược chủ động, thiết lập các chương trình hợp tác nghiên cứu dài hạn với các tổ chức nghiên cứu hàng đầu thế giới. Tích cực tham gia vào các mạng lưới nghiên cứu quốc tế và khu vực; khuyến khích và hỗ trợ các nhà nghiên cứu công bố kết quả trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín. Xây dựng và phát triển các tạp chí khoa học xã hội và nhân văn tiếng Anh của Việt Nam để đưa tri thức Việt Nam ra thế giới. Hội nhập quốc tế không chỉ để học hỏi mà còn để đưa tiếng nói của Việt Nam vào các diễn đàn học thuật toàn cầu.

3.5. Chuyển đổi số và đổi mới phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Cần xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số cho khoa học xã hội và nhân văn, bao gồm: cơ sở dữ liệu điều tra quốc gia được cập nhật định kỳ; kho lưu trữ dữ liệu nghiên cứu mở để các nhà khoa học có thể chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu; hệ thống phân tích dữ liệu lớn được tích hợp với công cụ trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ nhận diện xu hướng và dự báo. Đây là yêu cầu có ý nghĩa then chốt, thiết yếu đối với phát triển khoa học xã hội và nhân văn nói riêng, khoa học, công nghệ nói chung, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “dữ liệu là nguồn tài nguyên mới, là “không khí và ánh sáng” của kỷ nguyên mới, là tư liệu sản xuất mới”[5].
Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng hiện đại cho đội ngũ nghiên cứu. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa định tính và định lượng, giữa nghiên cứu trường hợp và phân tích dữ liệu lớn trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo chính là hướng đi của nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hiện đại./.
[1, 2, 3] Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 81, 99, 117.
[4] Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
[5] Tô Lâm. (2025). “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đoàn kết, sáng tạo, quyết tâm thực hiện thành công cuộc cách mạng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm hiện thực hóa khát vọng hùng cường và thịnh vượng của dân tộc. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/web/ guest/media-story/-/asset_publisher/ V8hhp4dK31Gf/content/toan-dang-toandan-toan-quan-doan-ket-sang-tao-quyettam-thuc-hien-thanh-cong-cuoc-cachmang-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghedoi-moi-sang-tao-va-chuyen


