Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn
Hội nhập quốc tế về khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) là chủ trương chiến lược nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt các kỳ Đại hội. Gần đây trong Nghị quyết 59-NQ/TW về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” và đặc biệt văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 14 đã chỉ rõ hội nhập quốc tế, trong đó có hội nhập quốc tế chuyên ngành về KHXH&NV, trở thành nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên” cùng với quốc phòng và an ninh trong tình hình mới.
Hội nhập quốc tế về KHXH&NV giờ đây không chỉ là hợp tác học thuật mà còn phải đảm đương nhiệm vụ chiến lược phục vụ phát triển đất nước và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ngoại giao học giả, ngoại giao tri thức trở thành một bộ phận quan trọng của ngoại giao toàn diện, góp phần gia tăng vị thế Việt Nam, tạo ảnh hưởng tri thức và bảo vệ lợi ích quốc gia trong môi trường cạnh tranh quốc tế.
1. Xu hướng hội nhập quốc tế trong KHXH&NV
Lịch sử hợp tác quốc tế trong KHXH&NV đã được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, khi UNESCO nỗ lực tạo liên kết xuyên quốc gia trong nghiên cứu khoa học. Năm 1952, UNESCO bảo trợ thành lập Hội đồng Khoa học Xã hội Quốc tế (ISSC), thúc đẩy hợp tác khoa học xã hội toàn cầu. Đến năm 2018, ISSC hợp nhất với Hội đồng Khoa học Quốc tế (ICSU) thành Hội đồng Khoa học Quốc tế (ISC), thể hiện xu hướng hội tụ giữa các lĩnh vực khoa học nhằm giải quyết các thách thức phức tạp mang tính toàn cầu. Hiện nay, hội nhập quốc tế về KHXH&NV đang diễn ra theo bốn xu hướng chủ đạo. Xu hướng thứ nhất là hợp tác liên ngành và xuyên biên giới, khi các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, đại dịch, an ninh lương thực đòi hỏi sự phối hợp của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Xu hướng thứ hai là khoa học mở và chia sẻ dữ liệu, giúp tăng tính minh bạch, khả năng tái lập và tác động của nghiên cứu, cho phép các nhóm nghiên cứu từ nhiều quốc gia cùng tiếp cận và phân tích. Xu hướng thứ ba là ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ thông tin vào thu thập, phân tích dữ liệu, tạo ra những khả năng xử lý dữ liệu khổng lồ và phức tạp chưa từng có. Xu hướng thứ tư là phát triển các mạng lưới và liên minh nghiên cứu quốc tế, nơi các nhà khoa học trao đổi ý tưởng và xây dựng các chương trình nghiên cứu chung quy mô lớn. Đáng chú ý là trong bức tranh hội nhập KHXH&NV toàn cầu, các trường đại học Bắc Mỹ và Tây Âu như MIT, Oxford, Harvard, LSE... không còn giữ vai trò độc tôn dẫn dắt, mà các trường đại học châu Á như của Nhật Bản, Trung Quốc cũng bắt đầu tăng dần ảnh hưởng khoa học toàn cầu. Đây là cơ hội để Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thay đổi và khẳng định vị thế mới trong bản đồ KHXH&NV khu vực và thế giới.
2. Hành trình hội nhập quốc tế của Viện Hàn lâm
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm), tiền thân là Ban Nghiên cứu Lịch sử - Địa lý - Văn học, ngay từ khi thành lập năm 1953 đã được Đảng xác định nhiệm vụ phát triển giao lưu văn hóa, khoa học quốc tế, học hỏi tri thức và kinh nghiệm nước ngoài để phục vụ kiến thiết đất nước. Đây là định hướng mang tầm nhìn chiến lược của Đảng ngay từ những ngày đầu xây dựng nền khoa học xã hội cách mạng Việt Nam. Hành trình hội nhập quốc tế của Viện Hàn lâm trải qua nhiều giai đoạn phát triển phản ánh rõ nét đường lối đối ngoại của Đảng trong từng thời kỳ. Giai đoạn 1953-1975, Viện Hàn lâm hợp tác chủ yếu với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng lý luận Mác-Lênin và phương pháp nghiên cứu cho khoa học xã hội Việt Nam. Giai đoạn 1975-1991, Viện Hàn lâm bắt đầu quan hệ hợp tác với một số cơ quan khoa học từ các nước phương Tây trong bối cảnh Việt Nam cần phá thế bao vây cấm vận. Từ 1991 đến 2010, Viện Hàn lâm thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, phản ánh đường lối "đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại" của Đảng ta. Từ năm 2010 khi đất nước trở thành nước thu nhập trung bình, và đặc biệt từ năm 2025 khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hội nhập quốc tế về KHXH&NV của Viện Hàn lâm được đặt ở tầm cao chiến lược mới. Đến nay, Viện Hàn lâm duy trì quan hệ hợp tác với gần 40 cơ quan khoa học và tổ chức quốc tế trên thế giới; luân phiên chủ trì phối hợp với các đối tác quốc tế tổ chức 8-10 hội thảo, diễn đàn, đối thoại quốc tế thường niên về các vấn đề KHXH&NV, các vấn đề phát triển khu vực và thế giới; mỗi năm Viện Hàn lâm cử hàng trăm cán bộ ra nước ngoài học tập, nghiên cứu, giao lưu học thuật tại các viện nghiên cứu và trường đại học hàng đầu thế giới; không ngừng củng cố và đổi mới các hoạt động hội nhập quốc tế về KHXH&NV và ngoại giao học giả nhằm góp phần gia tăng vị thế và ảnh hưởng của KHXH&NV Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần bước đầu quốc tế hóa tri thức Việt và làm phong phú kho tàng tri thức chung của nhân loại từ thực tiễn Việt Nam, đồng thời tham gia cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về tình hình Việt Nam, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái về các vấn đề chính trị, tự do học thuật, quyền con người... ở Việt Nam.
3. Bốn bài học kinh nghiệm và định hướng chiến lược trong kỷ nguyên mới
Từ thực tiễn hội nhập quốc tế của Viện Hàn lâm, có thể rút ra bốn bài học kinh nghiệm quan trọng định hướng cho giai đoạn phát triển mới.
Bài học thứ nhất là cần ưu tiên xây dựng chiến lược hợp tác và hội nhập quốc tế tổng thể, phù hợp định hướng XHCN và xu thế phát triển quốc tế. Trong chiến lược hợp tác và hội nhập quốc tế cần xác định rõ đối tác chiến lược, mục tiêu và phương thức hợp tác phù hợp với định hướng của Đảng; đặc biệt, trong kỷ nguyên mới, cần chuyển từ tư duy "tiếp nhận" (kinh nghiệm, tri thức, nguồn lực...) sang tư duy "đồng sáng tạo" và “đóng góp”, xây dựng quan hệ đối tác bình đẳng dựa trên lòng tin và hiểu biết lẫn nhau. Đây là bước chuyển phù hợp với vị thế và sức Amạnh hiện nay của Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện tinh thần tự lực, tự cường mà Đảng đã nhất quán đề cao. Bài học thứ hai là phải khắc phục sớm và căn cơ các điểm nghẽn về nhân lực. Một trong những thách thức lớn nhất trong hội nhập quốc tế của Viện Hàn lâm là hạn chế về năng lực nội sinh, thiếu hụt chuyên gia đầu ngành, chảy máu chất xám ra bên ngoài, đầu tư kinh phí và hạ tầng chưa theo kịp tiêu chuẩn chung của thế giới... Giải quyết căn cơ những điểm nghẽn này đòi hỏi cơ chế đặc thù, chính sách đãi ngộ vượt trội, như tinh thần Nghị quyết 45-NQ/TW, Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 59-NQ/TW, Nghị quyết 66-NQ/TW và các văn bản chỉ đạo khác của Đảng đã chỉ đạo. Bài học thứ ba là phải mạnh dạn áp dụng các chuẩn mực quốc tế vào nâng cao chuẩn mực quản lý và nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm. Việc này sẽ giúp Viện Hàn lâm không ngừng nâng cao uy tín học thuật quốc tế, giúp phản bác có cơ sở khoa học vững vàng các hiểu lầm và nhận thức chưa đúng về Đảng và đường lối phát triển đất nước ta. Bài học thứ tư là phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Viện Hàn lâm cần tăng tốc xây dựng cơ sở dữ liệu KHXH&NV; xây dựng chiến lược ứng dụng AI cấp Viện Hàn lâm và đơn vị trực thuộc; xây dựng các nền tảng công nghệ số giới thiệu và quảng bá thành tựu KHXH&NV Việt Nam ra thế giới... Chuyển đổi số trong hoạt động hội nhập quốc tế không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là điều kiện để Viện Hàn lâm thực hiện hiệu quả vai trò "cầu nối tri thức" giữa Việt Nam và thế giới.
4. Một số đề xuất cụ thể cho định hướng hội nhập giai đoạn mới
Để Viện Hàn lâm trở thành trung tâm nghiên cứu KHXH&NV ngang tầm khu vực và thế giới theo yêu cầu củAa Nghị quyết 45-NQ/TW, để thực hiện các yêu cầu của Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 59-NQ/TW, Nghị quyết 80-NQ/TW, của văn kiện Đại hội XIV và đưa hoạt động hợp tác và hội nhập quốc tế về KHXH&NV trở thành nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên”, Viện Hàn lâm cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp chiến lược. Viện Hàn lâm cần trước hết quan tâm nâng cao hiệu quả thực chất các hoạt động đối ngoại và hợp tác nghiên cứu quốc tế. Để làm việc này, Viện Hàn lâm cần chú trọng xây dựng các chương trình nghiên cứu quốc tế lớn trong từng lĩnh vực KHXH&NV và nghiên cứu quốc tế, và gắn các hoạt động đoàn ra, đoàn vào, hội thảo quốc tế, công bố quốc tế, đào tạo, xây dựng mạng lưới học thuật... theo các chương trình và hợp phần chương trình nghiên cứu đó.
Viện Hàn lâm cũng cần quan tâm xây dựng kế hoạch trở thành Trung tâm xuất sắc về KHXH&NV quy mô khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tạo diễn đàn khu vực để quy tụ các nhà khoa học xuất sắc trên toàn thế giới đến Viện Hàn lâm để "cùng làm, cùng hưởng”, “cùng sáng tạo, cùng chia sẻ tri thức", giúp Viện Hàn lâm hoàn thành sứ mệnh tiếp thu có chọn lọc tinh hoa tri thức nhân loại, quốc tế hóa mô hình và thành tựu phát triển mọi mặt của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ra thế giới, góp phần định hình dư luận quốc tế và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Đây cũng là một phương thức đấu tranh tư tưởng hiệu quả: khi các nhà khoa học và chuyên gia quốc tế trực tiếp giao lưu, nghiên cứu và chứng kiến thực tiễn phát triển của Việt Nam, những luận điểm xuyên tạc về chính trị, quyền con người, tự do học thuật ở Việt Nam sẽ tự bị bác bỏ bằng bằng chứng thực tiễn. Viện Hàn lâm cũng cần bám sát và kiến nghị kịp thời những bất cập phát sinh trong quá trình triển khai chính sách nhằm phát huy tối đa vai trò ngoại giao học thuật, ngoại giao tri thức nhằm tối đa hóa lợi ích quốc gia trên mặt trận tư tưởng-học thuật.
Hội nhập quốc tế về KHXH&NV là con đường tất yếu để nâng cao năng lực nội sinh và phát huy vai trò của khoa học xã hội Việt Nam trong tình hình mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã và đang thực hiện hội nhập theo nguyên tắc chủ động, tích cực, có chọn lọc, tiếp thu tinh hoa tri thức nhân loại nhưng không đánh mất bản sắc và định hướng XHCN; mở rộng hợp tác quốc tế nhưng kiên định mục tiêu phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, với sứ mệnh trở thành trung tâm nghiên cứu ngang tầm khu vực và thế giới, Viện Hàn lâm cần tiếp tục phát huy tinh thần đó: biến hội nhập quốc tế thành động lực của đổi mới sáng tạo, đóng góp xứng đáng vào khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, mục tiêu lịch sử mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt ra và toàn dân tộc đang quyết tâm thực hiện.


