HỆ THỐNG THINK TANK KHOA HỌC XÃ HỘI CỦA TRUNG QUỐC
Trung Quốc triển khai xây dựng và phát triển hệ thống think tank khoa học xã hội gắn kết chặt chẽ với hệ thống quản trị nhà nước gợi mở kinh nghiệm trong chiến lược phát triển khoa học xã hội hiện nay.
Mở đầu
Tại nhiều quốc gia trên thế giới, think tank đã thực sự trở thành một bộ phận không thể tách rời trong hệ sinh thái tư vấn chính sách hiện đại, đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa nghiên cứu hàn lâm chuyên sâu và thực tiễn quản lý nhà nước. Đối với Trung Quốc, sự trỗi dậy và phát triển mạnh mẽ của hệ thống think tank khoa học xã hội, gắn liền với tiến trình cải cách mở cửa, phát triển đất nước. Kể từ sau Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2012), định hướng xây dựng “think tank kiểu mới mang đặc sắc Trung Quốc” (中国特色新型智库) đã được nâng tầm thành một nhiệm vụ chiến lược quốc gia. Mục đích nhằm không ngừng nâng cao năng lực tư duy lý luận, khả năng dự báo chiến lược và tham mưu chính sách cho các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước Trung Quốc trước những biến động phức tạp của cục diện thế giới.
1. Tổng quan về hệ thống think tank khoa học xã hội của Trung Quốc
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trải qua các giai đoạn cải cách mở cửa và thời kỳ hội nhập sâu rộng sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (2001), nhu cầu tư vấn chính sách của Trung Quốc đã mở rộng không ngừng từ lĩnh vực kinh tế sang các vấn đề an ninh phi truyền thống, quản trị xã hội và đối ngoại toàn cầu.
Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là sau Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc, hệ thống think tank khoa học xã hội mới thực sự bước vào một giai đoạn phát triển mang tính đột phá cả về số lượng lẫn chất lượng. Tháng 1/2015, Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Văn phòng Quốc vụ viện đã ban hành "Ý kiến về việc tăng cường xây dựng think tank kiểu mới mang đặc sắc Trung Quốc", lần đầu tiên đề xuất một cách toàn diện và có hệ thống kế hoạch xây dựng một hệ thống tổ chức nghiên cứu tư vấn kiểu mới đặc sắc Trung Quốc. Theo đó, các think tank sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề chiến lược và chính sách công, phục vụ Đảng và Chính phủ trong việc đưa ra các quyết sách dựa trên cơ sở khoa học, dân chủ và pháp luật[1].
Tháng 2/2020, Hội nghị Trung ương lần thứ 12 về Cải cách toàn diện đã xem xét và thông qua "Ý kiến về việc đẩy mạnh công tác thí điểm xây dựng các think tank cao cấp quốc gia"[2] nhằm tăng cường vai trò của các tổ chức nghiên cứu trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình cải cách. Tổng Bí thư Trung Quốc Tập Cận Bình đã nhiều lần khẳng định “cần xây dựng hệ thống ngành học, hệ thống học thuật và hệ thống diễn ngôn triết học khoa học xã hội đặc sắc Trung Quốc, suy cho cùng chính là xây dựng hệ thống tri thức tự chủ của Trung Quốc”[3], nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tự chủ tri thức lý luận, coi đây là gốc rễ của quyền lực mềm quốc gia. Tư duy chiến lược này đã thúc đẩy sự chuyển dịch của hệ thống think tank khoa học xã hội Trung Quốc từ mô hình đối chuẩn, học tập kinh nghiệm phương Tây sang mô hình tự chủ, dựa trên thực tiễn phát triển của đất nước.
1.2. Cơ cấu và loại hình think tank
Dựa trên các đặc điểm về cơ cấu quản lý, nguồn vốn vận hành và đối tượng phục vụ cốt lõi, hệ thống think tank khoa học xã hội ở Trung Quốc hiện nay được phân thành bốn loại hình chủ yếu.
Loại hình thứ nhất đóng vai trò hạt nhân, định hướng chính trị cốt lõi, bao gồm các think tank trực thuộc các cơ quan Đảng và Nhà nước ở cấp Trung ương lẫn địa phương, trong đó đại diện tiêu biểu và có tầm ảnh hưởng học thuật cao nhất chính là Viện Khoa học xã hội Trung Quốc (CASS). CASS được Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Trung Quốc xác định là (i) một cứ điểm lý luận của chủ nghĩa Mác; (ii) cơ sở nghiên cứu cao nhất về triết học và khoa học xã hội Trung Quốc; (iii) viện nghiên cứu và cơ quan tư vấn quan trọng cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quốc vụ viện[4]. Định vị chính trị đặc thù này đã giúp các think tank thuộc khối cơ quan Đảng và Nhà nước luôn giữ vững quỹ đạo phát triển ổn định, bảo đảm mọi kết quả nghiên cứu chính sách đều phục vụ trực tiếp và đắc lực cho các mục tiêu chiến lược cốt lõi của quốc gia dưới sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương Đảng.
Sơ đồ: Hệ thống think tank khoa học xã hội tại Trung Quốc

Loại hình thứ hai là các think tank gắn liền với các trường đại học hàng đầu và các cơ sở nghiên cứu đào tạo trọng điểm quốc gia. Tiêu biểu là các trung tâm nghiên cứu chiến lược thuộc Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, hay Đại học Nhân dân Trung Quốc. Lợi thế cốt lõi của loại hình think tank này nằm ở nguồn tài nguyên học thuật phong phú, đội ngũ giáo sư, chuyên gia đa ngành có trình độ lý luận chuyên sâu và sự linh hoạt cao trong việc tiếp cận các xu hướng tri thức mới trên thế giới. Đây là nơi các lý thuyết khoa học xã hội tiên tiến được va chạm, kiểm chứng và kết hợp với dữ liệu thực chứng để hình thành nên các kiến nghị chính sách mang tính khách quan và hệ thống.
Loại hình thứ ba là các think tank bán chính thức, hoạt động dưới sự bảo trợ, tài trợ hoặc quản lý gián tiếp của các bộ, ban, ngành nhà nước hoặc các hiệp hội khoa học lớn. Các tổ chức này đóng vai trò là các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành chuyên sâu, tập trung vào các lĩnh vực cụ thể như chính sách năng lượng, quy hoạch đô thị, sở hữu trí tuệ hay chiến lược phát triển công nghệ, giúp cụ thể hóa các định hướng vĩ mô của Chính phủ thành các giải pháp kỹ thuật và quy trình tác nghiệp khả thi trong thực tế quản lý hành chính.
Loại hình thứ tư là các think tank tư nhân. Mặc dù gặp nhiều thách thức về mặt thể chế và rào cản tiếp cận thông tin chính thống hơn ba loại hình kể trên, các think tank tư nhân đã tận dụng hiệu quả sự linh hoạt của cơ chế thị trường để tồn tại và khẳng định giá trị riêng biệt.
2. Kinh nghiệm phát triển think tank khoa học xã hội của Trung Quốc
2.1. Gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và hoạch định chính sách
Một trong những thành công cốt lõi của hệ thống think tank Trung Quốc là việc thiết lập được cơ chế gắn kết chặt chẽ, bền vững và hiệu quả giữa hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội với quá trình hoạch định chính sách của nhà nước.
Để nâng cao tính trung thực, tinh thần trách nhiệm và chất lượng thực chất của sản phẩm tư vấn, các think tank ở Trung Quốc đặc biệt coi trọng việc xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ nghiên cứu, kiên trì nguyên tắc tư duy nghiên cứu đặc thù của hoạt động tư vấn chính sách là “báo ưu bất báo hỷ” (nói thẳng điều lo ngại thay vì chỉ nói điều tốt đẹp)[5] . Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa đường lối của Chính phủ và yêu cầu đạo đức khoa học, đóng góp của các think tank Trung Quốc ngày càng rõ nét trong quy trình quyết sách vĩ mô của quốc gia.
2.2. Chuẩn hóa cơ chế đánh giá và hiện đại hóa phương thức vận hành
Dấu mốc quan trọng khẳng định bước tiến mang tính chuyên nghiệp hóa, chính quy hóa của giới học thuật nước này là việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thống nhất thông qua Hệ thống chỉ số AMI được Viện Đánh giá khoa học xã hội (thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc) xây dựng từ năm 2016[6]. Đồng thời, hệ thống AMI cũng trở thành công cụ quan trọng để phân loại, xếp hạng và phân bổ nguồn lực đối với các think tank, góp phần thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động của mạng lưới viện nghiên cứu trên phạm vi cả nước.
2.3. Phát triển đội ngũ chuyên gia liên ngành đáp ứng yêu cầu tư vấn chính sách
Để khắc phục triệt để nút thắt về nhân sự, Trung Quốc khuyến khích sự luân chuyển nhân tài linh hoạt thông qua cơ chế “cửa xoay” giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và khối doanh nghiệp nhằm làm phong phú góc nhìn thực tiễn cho các học giả. Cơ chế này cho phép các chuyên gia luân chuyển hoặc kiêm nhiệm giữa khu vực nghiên cứu và khu vực hoạch định, thực thi chính sách, qua đó tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, mở rộng góc nhìn liên ngành và nâng cao chất lượng các sản phẩm tư vấn chính sách.
2.4. Đẩy mạnh quốc tế hóa hoạt động think tank
Việc quốc tế hóa hoạt động think tank được thúc đẩy theo cả hai chiều "đi ra ngoài" (走出去) và "thu hút nguồn lực từ bên ngoài" (引进来).
Chiến lược quốc tế hóa này còn được cụ thể hóa thông qua việc tạo dựng các thương hiệu think tank có ảnh hưởng toàn cầu, định kỳ tổ chức các hội thảo quốc tế cấp cao ngay tại Trung Quốc để chủ động thiết lập chương trình nghị sự cho giới học thuật thế giới. Trong đó, lộ trình mở rộng sức ảnh hưởng đối ngoại của Trung Quốc gồm ba nhiệm vụ trọng tâm: (i) hướng ra thế giới, thực hiện chiến lược “đi ra ngoài” trong nghiên cứu tổ chức tư vấn; (ii) định kỳ tổ chức hội thảo tổ chức tư vấn toàn cầu cấp cao tại Trung Quốc; (iii) tạo dựng thương hiệu tổ chức tư vấn Trung Quốc[7]
3. Tạm kết
Cách thức tổ chức xây dựng phát triển think tank khoa học xã hội của Trung Quốc cho thấy chiến lược của Trung Quốc trong gắn kết khoa học xã hội với quản trị đất nước trong thời kỳ mới. Qua đây gợi mở về tổ chức triển khai chiến lược như : nâng cao năng lực nội sinh của các think tank trên cơ sở phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy chuyển đổi số; thúc đẩy quốc tế hóa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh học thuật và quyền lực tri thức;... để Việt Nam tham khảo và vận dụng./.
[1] 荣婷婷, “ 建设中国特色新型智库的五点思考”, 当代世界研究中心, 2014-12-15 (Vinh Đình Đình, "Năm vấn đề cần suy ngẫm về xây dựng các think tank kiểu mới mang đặc sắc Trung Quốc", Trung tâm Nghiên cứu Thế giới Đương đại), https://www.cccws.org.cn/cccws/204/0226/20240226171340696419285_pc.html.
[2] Báo cáo đánh giá toàn diện AMI (AMI Comprehensive Evaluation Report) do Viện Đánh giá thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Trung Quốc (CASS) xây dựng. Attraction (Sức hút - A): đo lường mức độ quan tâm của cộng đồng học thuật đối với tạp chí/công trình, bao gồm hệ số trích dẫn, tần suất tải về và tính lan tỏa; Management (Quản trị - M): đánh giá quy trình vận hành và chất lượng quản lý của cơ sở xuất bản, bao gồm tính minh bạch, cơ chế bình duyệt (peer-review) và đạo đức học thuật; Influence (Tác động - I): đo lường tầm ảnh hưởng sâu rộng của nghiên cứu đối với cộng đồng học thuật cũng như các chính sách thực tiễn trong xã hội.
[3] 程宏, 刘志光, “程宏 刘志光:中国智库如何走出内卷”, The Paper (澎湃新闻), 2021-08-05 (Trình Hoành, Lưu Chí Quang, "Các tổ chức tư vấn của Trung Quốc làm thế nào để vượt qua tình trạng 'nội quyển'", The Paper), http://szzklm.sz.gov.cn/zkjs/content/post_716138.html.
[4] 荆林波, “中国特色新型智库与智库评价发展迈向新阶段” (Kinh Lâm Ba, "Các think tank kiểu mới mang đặc sắc Trung Quốc và sự phát triển của hoạt động đánh giá tổ chức tư vấn trong giai đoạn mới", Mạng Khoa học xã hội Trung Quốc), https://www.cssn.cn/zkzg/zzzg_tt/202301/t20230111_5579301.shtml
[5] 中办国办印发,《关于加强中国特色新型智库建设的意见》, "Ý kiến về việc tăng cường xây dựng think tank kiểu mới mang đặc sắc Trung Quốc"), http://politics.people.com.cn/n/2015/0120/c1001-26419175.html.
[6] “关于深入推进国家高端智库建设试点工作的意见” (Ý kiến về việc đẩy mạnh công tác thí điểm xây dựng các think tank cao cấp quốc gia), https://baike.baidu.com/item.
[7] 刘冬梅、黄宁、 卢阳旭、李哲, “ 面向科技强国建设的中国科技智库转型:趋势与展望”, 中国科学院院刊, 2026-05-31 (Lưu Đông Mai, Hoàng Ninh, Lư Dương Húc, Lý Triết, “Đổi mới các tổ chức tư vấn chiến lược khoa học và công nghệ của Trung Quốc phục vụ xây dựng cường quốc khoa học và công nghệ: Xu hướng và triển vọng", Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc), http://mob.casted.org.cn/channel/newsinfo/10819.


