GIỮ LỬA CÁCH MẠNG TRONG KỶ NGUYÊN SỐ
Công nghệ số hóa và sứ mệnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thế hệ trẻ
1. Mở đầu
Có một nghịch lý đáng suy ngẫm: chưa bao giờ thông tin về lịch sử cách mạng Việt Nam lại dồi dào, dễ tiếp cận như hôm nay, song khoảng cách tâm lý giữa thế hệ trẻ sinh sau Đổi mới với những trang sử ấy lại ngày càng rõ ràng. Một thanh niên sinh năm 2000 có thể tra cứu bất kỳ sự kiện lịch sử nào trong vài giây, nhưng nhiều khi lại khó cảm nhận được sức nặng cảm xúc và chiều sâu giá trị tư tưởng ẩn sau những dữ liệu đó. Đây chính là biểu hiện của “đứt gãy ký ức tập thể” (collective memory disruption) - một thách thức không thể giải quyết triệt để chỉ bằng các phương pháp tuyên truyền truyền thống.
Theo báo cáo “Digital 2024 in Vietnam”, người Việt từ 16 đến 24 tuổi dành trung bình hơn 6 giờ mỗi ngày trên Internet, trong đó hơn 2,5 giờ trên mạng xã hội [2] – vừa là không gian truyền tải tư tưởng quan trọng, vừa là nơi thế lực thù địch xuyên tạc lịch sử.
Trong bối cảnh toàn Đảng triển khai Nghị quyết Đại hội XIV và hướng tới kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (2030), xây dựng hạ tầng ký ức cách mạng số phù hợp với thế hệ số là đặc biệt quan trọng.
2. Cơ sở lý luận
Theo quan điểm duy vật biện chứng của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, song không phải sự phản ánh thụ động mà là quá trình tích cực, có tính kế thừa và độc lập tương đối [3]. Trong “Hệ tư tưởng Đức”, hai ông khẳng định rằng ý thức xã hội chỉ có thể được giải thích từ những điều kiện vật chất; nhưng một khi đã hình thành, ý thức xã hội có sức mạnh tác động ngược trở lại, định hình hành vi con người và quá trình phát triển lịch sử [4]. Đây là cơ sở khẳng định gìn giữ ký ức cách mạng - một bộ phận của ý thức xã hội - là điều kiện tồn tại của chính chế độ xã hội mà cuộc cách mạng ấy đã sinh ra. V.I. Lênin đã phát triển luận điểm này khi nhấn mạnh: “người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra” [5]. Truyền tải truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ là điều kiện sống còn, nếu thế hệ kế cận đánh mất ký ức thì họ cũng đánh mất khả năng bảo vệ thành quả cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng giáo dục thế hệ trẻ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [6]. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [7]. Người yêu cầu giáo dục lý tưởng phải thiết thực, làm cho thanh niên hiểu rõ chứ không phải học vẹt, đi từ việc nhỏ đến việc to [8]. Tư tưởng này có giá trị soi đường cho kỷ nguyên số: nội dung phải phù hợp với năng lực tiếp nhận của đối tượng, thông qua công cụ chính họ đang sử dụng. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục: “Xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam có lý tưởng cao đẹp, có ý chí tự lực, tự cường, có tri thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu của thời đại số” [9].
Theo Maurice Halbwachs trong “ký ức tập thể”, ký ức là sản phẩm cộng đồng, được duy trì qua thiết chế, nghi lễ và phương tiện giao tiếp chung [10]. Jan Assmann phân biệt “ký ức giao tiếp” (truyền miệng 3–4 thế hệ) và “ký ức văn hóa” (mã hóa vào văn bản, biểu tượng để tồn tại lâu dài) [11]. Trong kỷ nguyên số, ký ức tập thể chuyển sang nền tảng số, tạo cơ hội mở rộng tiếp cận nhưng cũng mang rủi ro phân mảnh, biến dạng [12]. Với Việt Nam, sự ra đi của thế hệ chứng nhân lịch sử để lại những khoảng trống lớn lao, ký ức cách mạng đối mặt nguy cơ bị “mã hóa sai” hoặc bị thay thế bởi luận điệu xuyên tạc nếu không có hạ tầng số đủ mạnh. Trước thực tế này đòi hỏi thế hệ sau phải tiếp nối sứ mệnh gìn giữ và kể tiếp câu chuyện của quá khứ.
3. Thực trạng đứt gãy ký ức và thủ đoạn xuyên tạc
Thế hệ sinh 1990–2010 trưởng thành không có ký ức trực tiếp về chiến tranh, nghèo đói; sự khó khăn thời bao cấp hay phong trào cách mạng. Theo khảo sát năm 2023 của Trung tâm Nghiên cứu Thanh niên, khoảng 38% sinh viên cảm thấy “khó kết nối cảm xúc” với lịch sử cách mạng dù vẫn ghi nhớ thông tin cơ bản [13].
Ba nguyên nhân cốt lõi: Thứ nhất, Gen Z tiếp nhận nội dung số ngắn, trực quan, tương tác cao với thời gian chú ý trung bình chỉ khoảng 8 giây [14], trong khi tư liệu cách mạng vẫn chủ yếu ở dạng văn bản dài, hình ảnh tĩnh. Thứ hai, kênh truyền ký ức liên thế hệ truyền thống suy giảm do đô thị hóa và hạt nhân hóa gia đình - quy mô hộ giảm từ 4,5 người năm 1999 xuống 3,5 người năm 2019 [15]. Thứ ba, cạnh tranh khốc liệt trên không gian mạng, nơi nội dung xuyên tạc với định dạng hấp dẫn lấp vào khoảng trống nội dung phù hợp thị hiếu giới trẻ.
Bốn thủ đoạn xuyên tạc nhắm vào giới trẻ: (1) “Tương đối hóa lịch sử” - đặt cách mạng và lực lượng đối lập vào cùng mặt phẳng đạo đức, ngụy trang dưới vỏ bọc “khách quan, đa chiều”; (2) “Cá nhân hóa và đời thường hóa thái quá” nhân vật lịch sử, biến họ thành đối tượng giải trí, xói mòn sự tôn kính; (3) “Ngụy tạo bằng chứng số” bằng deepfake, trích dẫn giả – thủ đoạn nguy hiểm nhất khi AI phát triển; (4) “Khuếch đại sai sót cá biệt”, tách hạn chế khỏi bối cảnh tổng thể để phủ định toàn bộ thành tựu. Cả bốn thủ đoạn đều tận dụng khoảng trống nội dung chính thống chất lượng cao, cho thấy “chống” phải đi liền với “xây”.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều mô hình thành công: Bảo tàng số Đảng Cộng sản Trung Quốc và hệ thống “Ký ức Đỏ trên đám mây” thu hút hàng trăm triệu lượt truy cập [16]; dự án “Trung đoàn Bất tử trực tuyến” tại Nga được hàng triệu thanh niên tham gia mỗi năm [17]; Quỹ Shoah (Mỹ) số hóa hơn 55.000 bài phỏng vấn nhân chứng Holocaust, xây dựng nhân chứng ảo bằng AI [18]; Estonia ứng dụng blockchain bảo toàn tính toàn vẹn tư liệu lịch sử [19]. Nguyên tắc chung: công nghệ không thay thế nội dung tư tưởng nhưng tạo “giác quan nhân tạo” giúp thế hệ trẻ cảm nhận và nội hóa nội dung đó theo cách phù hợp.
4. Mô hình “Hạ tầng ký ức cách mạng số” và vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Bài viết đề xuất mô hình “Hạ tầng ký ức cách mạng số” - hệ sinh thái số tích hợp do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh chủ trì, với sự tham gia của sinh viên các ngành công nghệ thông tin, lưu trữ học, sử học và truyền thông. Hạ tầng gồm ba lớp: kỹ thuật, nội dung và con người, vận hành theo ba nguyên tắc: tính xác thực (tư liệu số phải được xác thực bằng blockchain), tính tương tác (trải nghiệm chủ động, không thụ động tiêu thụ), và tính cộng đồng (thế hệ trẻ là chủ thể đồng kiến tạo ký ức chung).
Trụ cột thứ nhất - Kho dữ liệu mở về tư tưởng Hồ Chí Minh và lịch sử Đảng: số hóa toàn diện tác phẩm, tư liệu gốc, hệ thống phỏng vấn số và nhân chứng sống ảo, siêu dữ liệu ngữ nghĩa giúp tìm kiếm thông minh. Toàn bộ được bảo vệ bằng blockchain lá chắn kỹ thuật trực tiếp đối với thủ đoạn “ngụy tạo bằng chứng số”. Trụ cột thứ hai - Bảo tàng số tương tác và trải nghiệm thực tế ảo: sử dụng VR để bước vào không gian sống và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; chứng kiến các sự kiện trọng đại qua tái dựng 3D và AR; gặp gỡ nhân vật lịch sử qua nhân vật ảo xây dựng trên tư liệu gốc. Đây là trực quan hóa lịch sử có căn cứ, không phải hư cấu hóa - mọi nội dung phải được Hội đồng nội dung phê duyệt. Trụ cột thứ ba - Nền tảng ký ức cộng đồng thế hệ trẻ: điểm khác biệt quan trọng nhất là cho phép đoàn viên đóng góp câu chuyện gia đình (lời kể ông bà, kỷ vật, ảnh tư liệu); kết nối các mảnh ký ức phân tán thành bức tranh lịch sử đa chiều; sử dụng AI khám phá mối liên hệ giữa lịch sử cách mạng với cuộc sống hiện tại, từ đó hồi sinh kênh ký ức giao tiếp liên thế hệ trong hình thức mới. Trụ cột thứ tư - Chương trình đào tạo “Người gác lửa số”: lực lượng đoàn viên nòng cốt có kỹ năng kép (am hiểu tư tưởng, thành thạo công nghệ), trực tiếp số hóa tư liệu, vận hành nền tảng, phản bác nội dung xuyên tạc và truyền tải ký ức cách mạng bằng ngôn ngữ thế hệ số.
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là chủ thể trung tâm nhờ ba lợi thế: lợi thế đối tượng (gần gũi nhất với thế hệ trẻ, mạng lưới sâu rộng); lợi thế nguồn lực con người (sinh viên các ngành phù hợp); lợi thế tính chính danh (vừa chính thống vừa gần gũi). Đoàn đảm nhận ba vai trò: Nhà kiến tạo thể chế, Nhà điều phối nguồn lực, và Nhà phân phối nội dung.
5. Ba điều kiện tiên quyết
Điều kiện thứ nhất: Đảm bảo tính xác thực của nội dung tư tưởng. Di sản phải được trình bày trung thực, không đơn giản hóa hay biến dạng. Bất kỳ sai sót nào đều có thể bị lợi dụng để làm mất tín nhiệm toàn bộ hệ thống. Cần Hội đồng nội dung hoạt động theo cơ chế hai vòng: vòng học thuật (nhà nghiên cứu) và vòng chính trị-tư tưởng (tuyên giáo, Đoàn).
Điều kiện thứ hai: Xây dựng mô hình vận hành bền vững, đa nguồn lực: ngân sách nhà nước cho hạ tầng cốt lõi; đóng góp trách nhiệm xã hội từ doanh nghiệp công nghệ; sức lao động sinh viên tình nguyện qua chương trình tín chỉ; và mô hình kinh tế ký ức phi thương mại (huy hiệu, chứng nhận, điểm uy tín cộng đồng).
Điều kiện thứ ba: Thiết kế lấy trải nghiệm người dùng làm trung tâm. Một số sản phẩm truyền thông tư tưởng chưa tiếp cận được thế hệ trẻ vì được thiết kế theo tư duy “ta muốn nói gì” thay vì “người nghe muốn nghe theo cách nào”. Mô hình phải có sự tham gia thực chất của thanh thiếu niên ngay từ giai đoạn thiết kế, phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp thiết thực trong giáo dục thanh niên.
6. Kết luận
Giữ lửa cách mạng trong kỷ nguyên số là nhiệm vụ cấp bách: ngọn lửa tư tưởng cách mạng - hệ giá trị, lý tưởng và ký ức mà các thế hệ đi trước đã gây dựng bằng xương máu phải được chuyển giao sang thế hệ mới theo cách họ có thể tiếp nhận, cảm nhận và truyền tiếp. Nếu không, ngọn lửa sẽ tắt không phải vì bị dập từ bên ngoài mà vì thiếu nhiên liệu từ bên trong. Nhiên liệu ấy chính là hạ tầng ký ức số - những nền tảng, công cụ và trải nghiệm số cho phép thế hệ trẻ kết nối cảm xúc với lịch sử. Đây là điều mà Đại hội XIV đã nhận ra khi xác định chuyển đổi số không chỉ là chuyện kinh tế mà là trụ cột của mô hình phát triển mới, bao gồm cả phát triển văn hóa, tư tưởng và con người [20].
Câu hỏi cốt lõi không phải “làm thế nào để thế hệ trẻ nghe những gì chúng ta muốn nói?” mà là “làm thế nào để lịch sử cách mạng trở thành điều thế hệ trẻ muốn nghe, muốn hiểu, muốn kể lại và muốn tiếp nối?”. Khi câu trả lời đó được hiện thực hóa bằng hạ tầng số phù hợp, ngọn lửa cách mạng sẽ không chỉ được giữ mà còn thắp sáng thêm bởi chính bàn tay thế hệ tương lai.
Tài liệu tham khảo
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Hà Nội.
[2] We Are Social & Meltwater (2024), Digital 2024 Vietnam Report, We Are Social, Singapore.
[3] C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 37–38.
[4] C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Hệ tư tưởng Đức, trong Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 36–53.
[5] V.I. Lênin (1977), Toàn tập, tập 41, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 362.
[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 528.
[7] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 622.
[8] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 14, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 97.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Hà Nội, ngày 23/01/2026.
[10] Halbwachs, M. (1992), On Collective Memory, The University of Chicago Press, Chicago.
[11] Assmann, J. (1995), "Collective Memory and Cultural Identity", New German Critique, No. 65, pp. 125–133.
[12] Hoskins, A. (2018), "Memory of the Multitude: The End of Collective Memory", in Digital Memory Studies, Routledge, New York, pp. 85–109.
[13] Trung tâm Nghiên cứu Thanh niên - Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam (2023), Báo cáo khảo sát nhận thức và thái độ của sinh viên Việt Nam đối với lịch sử cách mạng dân tộc, Hà Nội.
[14] Microsoft Canada (2015), Attention Spans Consumer Insights – Spring 2015, Microsoft Advertising, Toronto.
[15] Tổng cục Thống kê (2020), Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
[16] Ban Tuyên truyền TW Đảng Cộng sản Trung Quốc (2022), Báo cáo tổng kết dự án "Hồng sắc ký ức vân thượng" – Bảo tàng số Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bắc Kinh.
[17] "Bessmertnyi polk" - The Immortal Regiment Movement (2023), Annual Report on Online Memory Initiatives, Moscow.
[18] USC Shoah Foundation (2023), IWitness Digital Platform - Pedagogy and Impact Report 2023, University of Southern California, Los Angeles.
[19] Republic of Estonia - e-Estonia Council (2022), Blockchain in Public Services: The KSI Blockchain Case Study, Tallinn.
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Hà Nội, ngày 23/01/2026.


