Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh mới - bối cảnh giao thoa văn hóa mạnh mẽ, việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc vừa có những thuận lợi, vừa đứng trước những thách thức lớn. Bản sắc văn hóa dân tộc vừa có điều kiện được lan tỏa, vừa đối mặt với nguy cơ bị mai một, lai căng và xuyên tạc, đặc biệt trên không gian mạng.
1. Phát huy vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh mới
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là cơ sở để xây dựng sức mạnh mềm quốc gia. Bản sắc văn hóa dân tộc được sử dụng như hệ giá trị cốt lõi và bền vững của mỗi dân tộc. Đây vừa là dấu hiệu nhận diện riêng, vừa là nền tảng tạo nên sự cố kết xã hội.
Trong quá trình phát triển, giao lưu và tiếp biến văn hóa là quy luật khách quan của mọi nền văn hóa. Sự tiếp xúc này thúc đẩy quá trình thích ứng và tạo ra những luồng văn hóa mới,
Trong bối cảnh giao thoa văn hóa mạnh mẽ, bản sắc văn hóa dân tộc có điều kiện được làm giàu thêm nhờ mở rộng tiếp cận tri thức, giá trị, tinh hoa văn hóa nhân loại và những xu hướng sáng tạo mới[1]. Di sản và sự đa dạng văn hóa của Việt Nam tạo lợi thế cho phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và quảng bá hình ảnh đất nước[2]. Công nghệ số giúp mở rộng không gian sáng tạo, thúc đẩy lan tỏa văn hóa Việt Nam ra thế giới[3]. Hợp tác quốc tế giúp quảng bá hình ảnh đất nước, mở rộng giao lưu và nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam[4].
2. Những kết quả tích cực trong bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
2.1. Giới trẻ hướng về cội nguồn, làm sâu sắc thêm giá trị văn hóa dân tộc
Một biểu hiện rõ nét là sự hồi sinh của các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống của giới trẻ. Từ chỗ bị cho là xa lạ với thế hệ trẻ, văn hóa truyền thống ngày nay ngày càng thu hút giới trẻ tìm về cội nguồn và khám phá giá trị văn hóa truyền thống dân tộc.

Tìm về cổ phục, lễ nghi truyền thống
Nhiều bạn trẻ chủ động tìm hiểu lịch sử và phong tục truyền thống của dân tộc. Trên mạng xã hội, các nội dung về lịch sử Việt Nam, lễ nghi truyền thống thu hút nhiều lượt xem và tương tác của giới trẻ. Các nhóm cộng đồng như “Đại Việt Cổ Phong”, “Vietnam Centre”… cùng nhiều câu lạc bộ văn hóa tại các trường đại học thường xuyên tổ chức hoạt động tìm hiểu văn hóa dân tộc, cổ phục, lễ nghi truyền thống, góp phần lan tỏa tình yêu văn hóa truyền thống trong giới trẻ. Điều đó cho thấy nhận thức của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ, về giá trị của văn hóa truyền thống dân tộc đang chuyển biến tích cực.

Festival Huế những năm gần đây thường xuyên tổ chức trình diễn áo dài và cổ phục cung đình triều Nguyễn, góp phần quảng bá văn hóa truyền thống đến du khách quốc tế. Sự phát triển của phong trào cổ phục không chỉ là xu hướng thẩm mỹ mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc và nâng cao ý thức bảo tồn văn hoá dân tộc trong cộng đồng.
Kết hợp yếu tố truyền thống với hơi thở hiện đại trong âm nhạc
Lĩnh vực âm nhạc cũng ghi nhận nhiều nỗ lực sáng tạo khi có sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống với hơi thở hiện đại. Xu hướng World Music hay sự pha trộn âm nhạc dân tộc với nhạc điện tử, pop, indie, nhạc AI đã tạo ra nhiều sản phẩm mới mẻ, hấp dẫn công chúng trẻ mà vẫn giữ được tinh thần văn hóa dân gian. Nhiều nghệ sĩ đưa các loại nhạc cụ truyền thống như trống, đàn tranh, đàn bầu, sáo trúc… vào tác phẩm đương đại, giới thiệu, quảng bá âm nhạc, văn hóa nghệ thuật Việt Nam trên nền tảng số và đến công chúng quốc tế.
Nhiều tác phẩm nghệ thuật truyền thống được giới trẻ làm mới bằng hơi thở hiện đại, hoặc ngược lại, làm mới những tác phẩm hiện đại bằng sử dụng chất liệu dân gian được công chúng trẻ đón nhận nồng nhiệt. Điều này cho thấy sức sống và khả năng thích ứng của âm nhạc truyền thống trong thời đại mới.
Việt Nam có nhiều di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh như Nhã nhạc cung đình Huế, Dân ca quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hát xoan, Đờn ca tài tử Nam Bộ, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Di sản âm nhạc, văn hóa nghệ thuật này đang không ngừng được tôn tạo và bồi đắp. Các chương trình biểu diễn âm nhạc, nghệ thuật truyền thống được tổ chức thường xuyên đã góp phần bồi đắp tình yêu văn hóa truyền thống cho giới trẻ. Một số trường học đưa dân ca, nhạc cụ truyền thống và trò chơi dân gian vào hoạt động ngoại khoá nhằm bồi đắp hiểu biết về văn hóa dân tộc cho học sinh.
2.2. Sự phát triển của du lịch văn hóa và du lịch tâm linh
Sự phát triển của du lịch văn hóa và du lịch tâm linh có vai trò quan trọng đối với bảo tồn bản sắc dân tộc. Nhiều địa phương đã khai thác hiệu quả lễ hội truyền thống, làng nghề, di tích lịch sử và không gian văn hóa cộng đồng để phát triển du lịch gắn với quảng bá hình ảnh đất nước. Các điểm du lịch như phố cổ Hội An, Cố đô Huế, làng cổ Đường Lâm, làng gốm Bát Tràng, hay các lễ hội truyền thống như Hội Gióng, lễ hội chùa Hương, Festival Huế,… hằng năm đều thu hút lượng lớn du khách trong và ngoài nước. Theo Tổng cục Du lịch Việt Nam, du lịch văn hoá hiện chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản phẩm du lịch quốc gia. Thông qua du lịch, nhiều giá trị truyền thống được phục dựng, bảo tồn và lan tỏa mạnh mẽ hơn.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng triển khai nhiều chính sách bảo tồn di sản, hỗ trợ nghệ nhân, phục hồi làng nghề, số hóa tư liệu và tổ chức các sự kiện văn hóa. Cùng với đó, giao lưu văn hóa quốc tế được đẩy mạnh nhằm lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
3. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trước những thách thức trong quá trình giao thoa và hội nhập
Bên cạnh những cơ hội mang lại, giao thoa văn hóa đặt ra yêu cầu gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc trước những tác động phức tạp từ cả bên trong lẫn bên ngoài và các quan điểm sai trái trên không gian mạng.
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, một số loại hình văn hóa truyền thống, nhất là ở nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa, đang đứng trước nguy cơ mai một do biến đổi đời sống xã hội. Đời sống xã hội hiện đại cũng làm thay đổi nhiều giá trị và chuẩn mực văn hóa truyền thống. Sự cộng hưởng giữa truyền thống và hiện đại không tránh khỏi sự đứt gãy ít nhiều trong quá trình tiếp biến. Nếp sống mới được bổ sung và thích ứng, bên cạnh đó, nhiều phong tục đẹp trong gia đình, cộng đồng dần bị giản lược, việc truyền dạy giữa các thế hệ đối diện khó khăn.
Giao thoa văn hóa và truyền thông số dễ làm nảy sinh tâm lý sính ngoại, tiếp cận thông tin nhanh thiếu sự kiểm chứng dẫn đến nhận thức chưa đầy đủ, thậm chí sai lệch, xem nhẹ bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc; hiện tượng thương mại hóa trong hoạt động văn hóa; quản lý, bảo tồn và phát huy tiềm năng văn hóa của địa phương và quốc gia ở chừng mực hạn chế.
Bên cạnh đó, sự lợi dụng, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hoá tinh thần xã hội không ngừng gia tăng. Các thế lực thù địch thường lợi dụng những bất cập trong quản lý lễ hội, bảo tồn di sản, kiểm duyệt các hoạt động văn hóa để xuyên tạc, phủ nhận thành tựu và bóp méo chính sách văn hóa của Đảng, Nhà nước. Chúng tung ra các luận điệu như Việt Nam “hạn chế tự do sáng tạo”, bảo tồn văn hóa chỉ mang tính “hình thức”, hoặc quy kết việc tiếp nhận văn hóa ngoại lai là “đánh mất bản sắc”. Chúng lấy một vài “hiện tượng đơn lẻ” để cố tình thổi phồng, cho đó là “bản chất”.
Trong khi Đảng và Nhà nước với chủ trương nhất quán tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại đi đôi với giữ gìn các giá trị cốt lõi của dân tộc, thúc đẩy sáng tạo và hội nhập trong đề cao bản sắc, giá trị truyền thống. Bức tranh văn hóa Việt Nam trong mắt bạn bè năm châu hiện nay là minh chứng sống động cho đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Kỷ nguyên mới, để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh giao thoa văn hóa với những thách thức trong hội nhập và phát triển, cần đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện chính sách quản lý văn hóa, đẩy mạnh giáo dục với nhiều hình thức, nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của truyền thông trong bảo vệ, lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc. Bên cạnh đó, gắn bảo tồn di sản với phát huy giá trị di sản; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội; phát huy vai trò của nghệ nhân, trí thức, văn nghệ sĩ và người có uy tín trong bảo tồn, truyền dạy, lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc và xây dựng đời sống văn hóa mới./.
[1] Trần Thọ Quang (2025), “Xây dựng nền văn hoá Việt Nam ngày càng bền vững, tiến bộ, bản sắc, tương xứng với trình độ phát triển kinh tế- xã hội hiện nay theo tinh thần đại hội XIII của Đảng”, Tạp chí Cộng sản, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1041102/view_content
[2] Đoàn Mạnh Cương (2023), Khai thác giá trị văn hoá tạo động lực phát triển kinh tế du lịch, Cục du lịch quốc gia Việt Nam, https://vietnamtourism.gov.vn/post/48415
[3, 5] Nguyễn Huy Phòng (2025), “Phát huy vai trò của khoa học, công nghệ trong xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam hiện nay”, Báo điện tử Thông tin khoa học chính trị, http://khoahocchinhtri.hcma.vn/Content/phat-huy-vai-tro-cua-khoa-hoc-cong-nghe-trong-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-viet-nam-hien-nay-132514
[4] Hoa Nguyễn (2018), “Xây dựng quảng bá hình ảnh quốc gia trong chiến lược ngoại giao văn hoá”, Tạp chí Cộng sản, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tong-ket-40-nam-doi-moi-dat-nuoc/-/2018/824346/view_content


