Góc nhìn khoa học xã hội

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ - Lý luận và thực tiễn Việt Nam

Nguyễn Lê 17/04/2026 17:44

Ngay từ những năm đầu lập quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, trong đó “bất biến” là độc lập dân tộc, “vạn biến” là linh hoạt đối ngoại trước mọi thay đổi của tình hình thế giới. Nguyên tắc này trở thành nền tảng cho sự định hình đường lối đối ngoại Việt Nam trong suốt tiến trình đổi mới và hội nhập.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đường lối đối ngoại của Việt Nam luôn gắn liền với nguyên tắc độc lập, tự chủ, phản ánh yêu cầu bảo vệ chủ quyền dân tộc và tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển. Đặc điểm này trở thành tư tưởng xuyên suốt từ thời kỳ đất nước giành được độc lập cho đến các kỳ đại hội Đảng gần đây, hình thành một hệ thống quan điểm đối ngoại thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa, biến động quyền lực và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Ngay từ những năm đầu lập quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, trong đó “bất biến” là độc lập dân tộc, “vạn biến” là linh hoạt đối ngoại trước mọi thay đổi của tình hình thế giới. Nguyên tắc này trở thành nền tảng cho sự định hình đường lối đối ngoại Việt Nam trong suốt tiến trình đổi mới và hội nhập.

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986, Việt Nam chuyển mạnh từ tư duy đối đầu sang đối ngoại hợp tác đa phương, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, ưu tiên hòa bình, ổn định và phát triển kinh tế. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy, và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Tiếp đến Văn kiện Đại hội XIV (2025), nội dung trọng tâm của tư tưởng đối ngoại được xác định rõ:

. Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới: Tư tưởng này nhấn mạnh sự phát triển toàn diện, hiện đại, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế mới của đất nước.

. Tăng cường "Tự chủ chiến lược" và "Tự cường": Đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, đảm bảo Việt Nam chủ động vững vàng trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

. Đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên: Nâng tầm đối ngoại, không chỉ giữ vững môi trường hòa bình mà còn chủ động kiến tạo môi trường phát triển, mở đường cho hợp tác và tăng trưởng kinh tế.

. Tiếp tục "độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa": Kiên định đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

. Phát huy "sức mạnh mềm" và ngoại giao toàn diện: Đẩy mạnh kết hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân để huy động nguồn lực phát triển quốc gia.

Như vậy, đường lối đối ngoại của Việt Nam vừa mang tính kế thừa lịch sử, vừa thể hiện sự thích ứng linh hoạt với bối cảnh hiện đại. Dưới đây là một số nội hàm chính của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam:

Thứ nhất, bảo đảm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc.

Độc lập, tự chủ đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu, được xem là “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động đối ngoại. Độc lập tự chủ thể hiện ở tính tự quyết của Việt Nam trong hoạch định chính sách, không phụ thuộc vào bất kỳ cường quốc hay liên minh nào. Điều này không chỉ nhằm bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, mà còn là nền tảng để phát triển bền vững trong một thế giới cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt.

Thứ hai, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế.

Độc lập, tự chủ gắn với đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Việt Nam không chỉ mở rộng quan hệ song phương, mà còn chú trọng hợp tác đa phương, tích cực tham gia các tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, ASEM, WTO, Liên hợp quốc. Chính sách này giúp Việt Nam vừa tranh thủ nguồn lực phát triển, vừa góp phần định hình luật chơi chung, giảm rủi ro phụ thuộc vào một đối tác. Theo Thayer (2017), việc kết hợp cân bằng quan hệ với các nước lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga và các đối tác EU là biểu hiện rõ nét của đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa.

Thứ ba, đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển.

Đường lối đối ngoại của Việt Nam ưu tiên môi trường hòa bình, tránh xung đột và đối đầu. Các văn kiện Đảng nhấn mạnh phương châm “thêm bạn, bớt thù” và sử dụng biện pháp ngoại giao hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016). Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông, khi Việt Nam kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở UNCLOS 1982 nhằm bảo vệ lợi ích chiến lược.

Thứ tư, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Từ Đại hội XI (2011), Việt Nam chuyển từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “hội nhập quốc tế toàn diện” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011), đồng thời thể hiện tính chủ động thay vì bị động trong công tác hội nhập quốc tế. Việt Nam nỗ lực đóng góp sáng kiến trong các diễn đàn đa phương, góp phần định hình chương trình nghị sự và luật chơi trên trường quốc tế. Về lĩnh vực hội nhập kinh tế, Việt Nam tham gia sâu vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKVFTA, phản ánh chiến lược gắn hội nhập với cải cách trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút đầu tư.

Một trong những thành tựu nổi bật trong thời gian qua của chính sách đối ngoại Việt Nam là mở rộng vị thế quốc tế. Tính đến năm 2024, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hơn 190 quốc gia và quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 14 nước, gồm: Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Úc, Pháp, Malaysia, New Zealand, Indonesia, Singapore, Thái Lan và Vương quốc Anh. Với vị thế này, Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia Đông Nam Á thiết lập quan hệ cấp cao với tất cả các cường quốc. Việt Nam đã hai lần đảm nhiệm vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2008 - 2009, 2020 - 2021), thể hiện vai trò tích cực, có trách nhiệm.

Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế được thúc đẩy mạnh mẽ. Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ gắn với hội nhập mạnh mẽ, tận dụng sức mạnh thời đại đã giúp Việt Nam tận dụng cơ hội từ toàn cầu hóa để đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút FDI và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Theo World Bank (2023), nhờ hội nhập, GDP Việt Nam tăng trưởng trung bình 6 - 7%/năm, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất Châu Á.

Chính sách đối ngoại độc lập tự chủ cũng góp phần bảo đảm an ninh và chủ quyền. Thông qua ngoại giao đa phương và hợp tác quốc tế, Việt Nam tạo dựng “cân bằng chiến lược mềm” giúp giảm thiểu tác động của cạnh tranh Mỹ - Trung, đồng thời thúc đẩy hợp tác quốc phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, và bảo vệ lợi ích tại Biển Đông.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc ngày càng gay gắt, trật tự thế giới biến động khó lường và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng, đường lối đối ngoại của Việt Nam tiếp tục khẳng định nguyên tắc độc lập, tự chủ, gắn với đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hợp tác và phát triển. Nguyên tắc này không chỉ kế thừa tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, mà còn là định hướng nền tảng nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia - dân tộc trong môi trường quốc tế phức tạp.

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, Chiến lược “không chọn phe” của Việt Nam là thế chủ động chiến lược. Điều này được cụ thể hóa trong “bốn không” của Sách Trắng Quốc phòng (2019), gồm:

. Không tham gia liên minh quân sự;

. Không liên minh với nước này chống nước khác;

. Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự;

. Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực.

Chính sách này giúp Việt Nam không bị cuốn vào xung đột khu vực, giữ môi trường hòa bình và tránh dẫn đến phụ thuộc an ninh vào ngoại lực.

Có thể thấy rõ đối ngoại Việt Nam với lập trường rõ ràng dựa trên ba trụ cột: lợi ích quốc gia - dân tộc, luật pháp quốc tế, và hòa bình - hợp tác. Việc thúc đẩy luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 trong giải quyết Biển Đông, cho thấy Việt Nam có lập trường rõ ràng, không trung lập giá trị mà yêu cầu tuân thủ luật lệ quốc tế.

Những hoạt động quốc tế của Việt Nam cho thấy đường lối đối ngoại của Việt Nam kết hợp chặt chẽ lợi ích dân tộc và trách nhiệm quốc tế. Việt Nam gửi lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, thúc đẩy ngoại giao nhân đạo và đóng góp xây dựng trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Điều đó giúp tăng vị thế quốc gia không chỉ bằng sức mạnh kinh tế, mà bằng uy tín quốc tế.

Thực tiễn chính trị quốc tế cho thấy sự tự chủ được thể hiện qua thực lực và vai trò. Việt Nam đã trở thành nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng hàng đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (World Bank, 2023), là đối tác quan trọng của hầu hết các tổ chức quốc tế lớn, và là quốc gia trung tâm trong ASEAN. Việt Nam không chỉ tham gia, mà còn chủ động có những đóng góp sáng kiến cho các tổ chức khu vực và đa phương. Những thành tựu đó chứng minh Việt Nam không chỉ hội nhập, mà còn tạo ảnh hưởng tích cực trong cấu trúc khu vực. Với sự mở rộng vị thế đó, Việt Nam có cơ sở vững chắc để duy trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ.

Nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử, chúng ta có thể thấy rõ tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện sự kết hợp giữa nguyên tắc cốt lõi và tính linh hoạt, vẫn mang giá trị chiến lược trong cạnh tranh quyền lực hiện nay. Chính sự linh hoạt theo tư tưởng Hồ Chí Minh giúp Việt Nam chuyển từ đối đầu sang hợp tác, hội nhập sâu vào hệ thống quốc tế, nhưng vẫn bảo vệ được lợi ích quốc gia.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2011

2. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2016.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2021.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2025.

5. Sách Trắng Quốc phòng. 2019.

6. Thayer. 2017.

7. World Bank. 2023.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ - Lý luận và thực tiễn Việt Nam
    • Mặc định
    trống đồng