Du lịch cộng đồng của người Lô Lô Đen ở Cao Bằng
Bảo tồn, phát huy nguồn lực văn hóa vật thể trong phát triển du lịch cộng đồng của người Lô Lô Đen ở Khuổi Khon, Cao Bằng những năm gần đây.
1. Phát triển du lịch cộng đồng dựa trên khai thác giá trị văn hóa tộc người
Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch gắn liền với văn hóa của cư dân địa phương, dựa vào lợi thế quan trọng là nguồn lực văn hóa, các giá trị văn hóa đặc trưng tộc người.
Các di sản văn hóa vật thể của người Lô Lô Đen ở xóm Khuổi Khon, xã Hưng Đạo, tỉnh Cao Bằng gồm: làng bản, nhà ở, trang phục truyền thống, ẩm thực… Đây là giá trị di sản văn hóa tộc người và là nguồn lực cần được khai thác trong quá trình xây dựng và phát triển du lịch cộng đồng.
Cùng với đó, là sự cộng hưởng bởi đời sống tinh thần, văn hóa văn nghệ của người Lô Lô Đen trong phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể nơi đây. Đội văn nghệ với 25 thành viên được thành lập những năm gần đây với những tiết mục dân ca, dân vũ riêng có đã góp phần níu chân du khách.

2. Quá trình xây dựng du lịch cộng đồng của người Lô Lô Đen ở Khuổi Khon
Theo số liệu thống kê của Phòng Dân tộc huyện Bảo Lạc (cũ), người Lô Lô Đen có 371 hộ, 1.600 khẩu, cư trú tập trung tại 3 xã: Hồng Trị, Kim Cúc và Cô Ba. Trong các bản của người Lô Lô Đen, Khuổi Khon là xóm xây dựng mô hình du lịch cộng đồng đầu tiên từ năm 2012. Do cảnh quan môi trường khá nguyên vẹn, nhiều người Pháp đã tìm đến Khuổi Khon để trải nghiệm. Họ cùng ăn, cùng ở và cùng tham gia lao động sản xuất với người dân sở tại.
Trước kia, đời sống kinh tế của người Lô Lô ở xóm Khuổi Khon rất khó khăn. Bản có 57 hộ với gần 300 nhân khẩu, trong đó hộ nghèo, hộ cận nghèo chiếm 50% dân số của bản. Khi triển khai thực hiện Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số rất ít người giai đoạn 2016-2025, Khuổi Khon được cấp 500 triệu đồng từ nguồn vốn của Đề án. Theo đó, năm 2020, để phát triển du lịch cộng đồng, 5 hộ gia đình đầu tiên được Đề án hỗ trợ kinh phí 100 triệu đồng/hộ để tu bổ, tôn tạo và sửa chữa nhà ở truyền thống của gia đình thành homestay.
Nhận thấy tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng từ xóm Khuổi Khon, xã Kim Cúc khi đó (nay là xã Hưng Đạo) đã triển khai Đề án “Bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc Lô Lô gắn với phát triển điểm du lịch cộng đồng xóm Khuổi Khon, xã Kim Cúc, huyện Bảo Lạc” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt đề án, bắt đầu triển khai từ năm 2019. Cho đến nay, xóm Khuổi Khon đã có 8 hộ gia đình làm homestay, trong đó 7 hộ người Lô Lô, 1 người hộ Kinh.
Huyện Bảo Lạc (cũ) sử dụng nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 để xây dựng bãi đỗ xe tại điểm du lịch Khuổi Khon. Chính quyền xã cấp kinh phí trồng cây, tôn tạo cảnh quan từ quốc lộ đến điểm du lịch.
3. Vận hành du lịch cộng đồng của người Lô Lô Đen tại Khuổi Khon
Ban Quản lý vận hành du lịch tại đây gồm: đại diện lãnh đạo xã (cũ), Ban quản lý xóm Khuổi Khon. Mọi homestay đều tuân thủ nguyên tắc công bằng, bình đẳng, không cạnh tranh.
Giá dịch vụ ở các homestay đều thiết lập giống nhau. Khi có nhiều đoàn, Ban quản lý có thể sắp xếp cho khách đến các homestay khác nhau. Các phần trình diễn của đội văn nghệ xóm theo yêu cầu của du khách đều do Ban quản lý điều phối. Hoạt động du lịch cộng đồng phải dựa vào Hương ước chung của thôn bản, phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa của dân tộc, dưới sự chỉ đạo chung của UBND xã.
Trong đó có các quy định về: Đón tiếp, hướng dẫn phục vụ du khách; Giới thiệu bản sắc văn hóa dân tộc, quảng bá các sản phẩm du lịch của địa phương; Quản lý, chăm sóc, bảo vệ cảnh quan môi trường; Bảo vệ, duy tu, sửa chữa các hạng mục công trình công cộng; Quản lý, tổ chức các hoạt động dịch vụ du lịch phù hợp với phong tục, tập quán; Quản lý, sử dụng tài sản, thu phí, đóng lệ phí theo quy định. Tất cả các gia đình làm homestay cập nhật, báo cáo số lượng khách, báo cáo thu chi và đóng góp nghĩa vụ cho cộng đồng;...
Theo số liệu báo cáo của Ban Quản lý du lịch cộng đồng xã Kim Cúc (cũ), cũng như thực tế cho thấy, vài năm gần đây, lượng khách du lịch, nhất là khách nước ngoài đến Khuổi Khon du lịch trải nghiệm có xu hướng tăng lên đáng kể. Thu nhập bình quân của 6 hộ làm du lịch trên 40.000.000 đồng/năm. Trong 3 năm gần đây, xóm Khuổi Khon đã đón gần 2.000 lượt khách.
Ngoài kiến trúc nhà sàn, trang phục, ẩm thực, nghề thủ công và các làn điệu dân ca, dân vũ cùng với lễ hội đang tạo ra sức hấp dẫn riêng trong phát triển du lịch cộng đồng, giúp đồng bào Lô Lô Đen có thêm thu nhập, từng bước vươn lên thoát nghèo.

4. Bảo tồn nguồn lực văn hóa vật thể của người Lô Lô Đen trong phát triển du lịch cộng đồng
Xóm Khuổi Khon nằm trong địa bàn huyện Bảo Lạc cũ với khá nhiều di tích lịch sử-văn hóa và danh lam, thắng cảnh (núi Phja dạ, Đèo Khau cốc chà 15 tầng, Di tích đồn Đồng Mu tại, Chùa Vân An, Dinh thự dòng họ Nông và Miếu Quan Đế…). Khuổi Khon còn là trung tâm kết nối giữa hai công viên địa chất toàn cầu: Cao nguyên đá Đồng Văn và công viên địa chất Non nước Cao Bằng. Đây là những điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và phát triển các loại hình du lịch nói chung, trong đó có du lịch cộng đồng.
Thời gian qua, công tác bảo tồn các di sản văn hóa vật thể của huyện Bảo Lạc nói chung, di sản văn hóa vật thể của người Lô Lô Đen nói riêng được tỉnh Cao Bằng quan tâm đầu tư, hỗ trợ và đạt được những thành quả đáng ghi nhận.
4.1. Nhà ở
Hiện nay, làng bản của người Lô Lô Đen được tạo lập ở lưng chừng núi hoặc trên gò đồi. Bản lớn thường từ 60-80 nóc nhà, bản nhỏ trên 20 nóc nhà, thường là anh em cùng họ hàng. Các ngôi nhà trong bản thường bố trí theo kiểu mật tập, mặt trước hướng ra thung lũng lòng chảo, mặt sau dựa vào sườn núi.
Nhà sàn của người Lô Lô Đen ở xóm Khuổi Khon là loại hình nhà vì kèo với bộ khung sườn thường được liên kết với nhau bằng hệ thống dầm xà ngang, dọc khá bề thế, vững chãi. Nhà thường làm 3, 5, 7 gian, có 1 cầu thang lên xuống đặt ở gian phụ phía chái trước, nối vào hành lang; có 1 cửa ra vào chính mở ở gian thứ hai (cạnh bếp nấu) hoặc mở thêm 1 cửa phụ ở gian bên cạnh phía trong, vách thưng ván gỗ hay phên vầu; thường có 3 cửa sổ. Nhà nào cũng có sàn phơi mở trước cửa chính (nếu có cửa phụ thì cũng thường thông ra sàn phơi).

(Ảnh: Facebook Phương Lo Lo House Khuổi Khon)
Nhà sàn là loại hình kiến trúc khá hấp dẫn đối với khách du lịch. Hiện nay, hầu hết người Lô Lô đen đều ở nhà sàn, cột tròn hoặc vuông, kê đá tảng, lợp ngói âm dương. Quy mô mỗi ngôi nhà khá bề thế, rộng rãi, thoáng mát với diện tích từ 100-120 m2, rất phù hợp với khách đoàn lưu trú.
Mặc dù có những thay đổi trên nhiều mặt trong đời sống, song sở thích ở nhà sàn vẫn là một trong những biểu hiện của nhận thức về nét đặc trưng văn hóa riêng của người Lô Lô Đen tại địa phương này.
Bên cạnh hỗ trợ kinh phí cho các hộ gia đình tôn tạo, tu bổ nhà ở truyền thống, Đề án năm 2020 còn triển khai xây bể chứa nước dùng chung cho cả xóm với dung tích khoảng 5.000 m3 và nhà văn hóa cộng đồng theo mô hình nhà sàn truyền thống, rộng 120 m2 tại trung tâm xóm Khuổi Khon (khai trương năm 2021).
4.2. Trang phục truyền thống
Bộ nữ phục Lô Lô Đen gồm: áo (pió), quần (là), khăn đội đầu (má thuô), tấm choàng eo (tuy thuế), dây thắt lưng kèm túi đựng trầu và xà cạp (nay xà cạp hầu như không còn sử dụng, nhưng vẫn được quấn vào bắp chân khi qua đời).
Trong quá trình giao lưu ở các tộc người thiểu số, y phục đã và đang có sự tiếp biến đáng kể. Tuy cũng không ngoài trào lưu đó, song có thể nói điều đáng mừng là phụ nữ người Lô Lô Đen ở Khuổi Khon vẫn bảo lưu nguyên vẹn bộ y phục truyền thống của cộng đồng.
Đến với xóm Khuổi Khon, du khách sẽ được chứng kiến hầu hết phụ nữ dù ngày thường hay đi làm, nhất là trong các dịp lễ tết, đều mặc bộ y phục truyền thống của dân tộc mình. Vì thế, hầu như những người đã từng một lần đến nơi đây đều có chung nhận xét: bộ y phục nữ Lô Lô đen chính là điểm nhấn, nổi bật nhất thể hiện nét đặc trưng văn hóa truyền thống tộc người.
Từ năm 2019, tại các xóm có người Lô Lô Đen sinh sống, trong đó có Khuổi Khon, chính quyền địa phương đã ưu tiên đầu tư hỗ trợ sợi bông để phát triển nghề dệt, kết hợp với phát triển du lịch cộng đồng.
Đặc biệt, trong năm 2023, thực hiện Tiểu dự án 1 nằm trong Dự án 9 “Đầu tư phát triển nhóm dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn và có khó khăn đặc thù” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình Mục tiêu Quốc gia 1719), huyện Bảo Lạc (cũ) còn tổ chức các lớp tập huấn truyền dạy các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc, các nghi lễ, nghề thủ công truyền thống (đan lát, thêu thùa, dệt vải) để bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng.
4.3. Ẩm thực
Nguồn lương thực chính của người Lô Lô Đen ở xóm Khuổi Khon chủ yếu là lúa gạo, còn nguồn thực phẩm chủ yếu là các sản phẩm chăn nuôi, tự gieo trồng. Các món ăn chế biến từ lương thực và thực phẩm của người Lô Lô Đen ở xóm Khuổi Khon khá phong phú, đặc trưng văn hóa tộc người, chẳng hạn: bánh rán (chi ma), xôi màu (đen, đỏ, vàng), thịt lợn gác bếp xào, đậu thối, cá lam, chuối vò nát.
Tùy theo mùa hay dịp nhất định mà sự góp mặt và tần suất xuất hiện của các món nhiều hay ít, nhưng vẫn được bà con Lô Lô Đen tự bảo tồn và duy trì trong đời sống, nhất là trong các dịp tổ chức Lễ hội văn hóa dân tộc. Hình thức bảo tồn tại cộng đồng gắn với mô hình du lịch cộng đồng là phù hợp, phổ biến, hiệu quả và thiết thực nhất..
5. Phát huy giá trị nguồn lực văn hóa vật thể trong phát triển du lịch cộng đồng của người Lô Lô Đen
5.1. Tăng cường sự hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với du lịch cộng đồng
Để phát huy giá trị nguồn lực văn hóa truyền thống của người Lô Lô Đen ở Khuổi Khon, một số vấn đề cần được chính quyền địa phương chú trọng và quan tâm trong thời gian tới là:
(i) Sớm xây dựng và hoàn thiện Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã;
(ii) Có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ làm du lịch có trình độ và đủ năng lực chuyên môn;
(iii) Trong chủ trương xây dựng các sản phẩm OCOP của xã, cần đưa vào danh sách một số sản phẩm du lịch của người Lô Lô Đen ở xóm Khuổi Khon;
(iv) Tiếp tục tuyên truyền cho bà con tích cực duy trì giữ gìn vệ sinh môi trường, trồng nhiều cây xanh, tìm kiếm, khai thác để bổ sung nguồn nước, vận động các hộ gia đình tham gia xây dựng và phát triển mô hình, bởi đây chính là cộng đồng cùng làm, cùng chia sẻ và cùng hưởng lợi.
5.2. Phát triển các hoạt động trải nghiệm văn hóa cho du khách, đa dạng các sản phẩm lưu niệm gắn với văn hoá địa phương
Với sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, chính sách đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, đồng bào Lô Lô Đen đã biết tận dụng, khai thác tạo ra những sản phẩm du lịch hấp dẫn từ phát huy giá trị nguồn lực văn hóa truyền thống, qua đó bước đầu tạo bước chuyển tích cực, hiệu quả từ mô hình du lịch cộng đồng ở địa phương. Hiện nay, ngoài trang phục, một số sản phẩm du lịch mới mang tính đặc trưng (quà lưu niệm) cũng đã xuất hiện, hướng tới mục đích hàng hóa phục vụ du khách.
Các di sản và nguồn lực văn hóa vật thể của người Lô Lô Đen, xóm Khuổi Khon được phát huy và khai thác theo mô hình du lịch cộng đồng gần đây, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp với chủ trương, đường lối và chính sách dân tộc và miền núi của Đảng và Nhà nước. Đây là điểm sáng về du lịch cộng đồng, nhất là đối với đồng bào dân tộc mới bắt đầu xây dựng và phát triển mô hình du lịch cộng đồng như người Lô Lô Đen ở Khuổi Khon.


