Dòng chảy văn hóa Việt Nam qua lăng kính khảo cổ học
Các phát hiện khảo cổ thời tiền - sơ sử từ thời đại Đá cũ qua Đá mới đến thời đại Kim khí và khảo cổ học lịch sử thời các triều đại quân chủ độc lập trên địa bàn cả nước đã minh chứng thuyết phục, khách quan cho tính liên tục, sáng tạo, nguồn gốc bản địa và đặc sắc của văn hóa Việt Nam.
Lịch sử - văn hóa một quốc gia, dân tộc được nhận diện từ nhiều phương diện khác nhau, trong đó, khảo cổ học qua nghiên cứu hệ thống di tích, di vật, các bối cảnh cổ môi trường, sinh thái và di tồn văn hóa vật chất khác gắn với sự tiến hóa của con người và các nền văn hóa, cung cấp những luận cứ khoa học xác đáng nhất. Khảo cổ học Việt Nam với những nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và liên ngành trong nhiều lĩnh vực đã đưa ra các bằng chứng xác thực về cội nguồn, bề dày lịch sử và bản sắc văn hoá Việt Nam trong tiếp biến và giao lưu văn hóa quốc tế. Các phát hiện khảo cổ thời tiền - sơ sử từ thời đại Đá cũ qua Đá mới đến thời đại Kim khí và khảo cổ học lịch sử thời các triều đại quân chủ độc lập trên địa bàn cả nước đã minh chứng thuyết phục, khách quan cho tính liên tục, sáng tạo, nguồn gốc bản địa và đặc sắc của văn hóa Việt Nam.
- Các bằng chứng từ An Khê, Núi Đọ, Tiền Hòa Bình - Hòa Bình và các di tích thời đại Đá mới: Cư dân thời nguyên thủy ở Việt Nam xuất hiện từ rất sớm và có quá trình phát triển liên tục bản địa suốt thời kỳ tiền sử
Các phát hiện tại An Khê (Gia Lai) từ năm 2014 đến nay đã xác định sự hiện diện của con người tối cổ tại Việt Nam cách đây khoảng trên dưới 800.000 năm, và Núi Đọ (Thanh Hóa) khoảng 400.000 năm BP, đưa Việt Nam vào bản đồ phân bố các trung tâm xuất hiện người vượn đứng thẳng cổ nhất ở châu Á.
Các di tồn văn hóa kỹ nghệ Tiền Hòa Bình và Hòa Bình - Bắc Sơn, kỹ nghệ Ngườm minh chứng rõ ràng sự hình thành và tiến triển của một cơ tầng văn hóa tiêu biểu ở khu vực Đông Nam Á lục địa và Nam Trung Quốc trong giai đoạn cuối Cánh tân – đầu Toàn tân (khoảng trên 100.000 – 7.000 năm BP), trong đó Việt Nam được xem như là địa bàn gốc và tiêu điểm của cơ tầng văn hóa này.
Các di tích văn hóa thời đại Đá mới (khoảng sau 10.000 – 4.000 năm BP) ở Việt Nam được chứng minh cơ bản có nguồn gốc bản địa từ cơ tầng văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn nhưng phát triển đa dạng thành các văn hóa theo từng khu vực bao phủ hầu hết các địa bàn chính của cả nước như Cái Bèo – Hạ Long, Phia Điểm – Mai Pha, Hà Giang ở Bắc/Đông Bắc bộ; Đa Bút – Hoa Lộc, Quỳnh Văn – Thạch Lạc/Bàu Tró ở Bắc/Trung Trung bộ; Bàu Dũ, Văn Tứ Đông – Xóm Cồn ở Nam Trung bộ; Cầu Sắt ở Nam Bộ và Srepok – các văn hóa hậu kỳ Đá mới ở Tây Nguyên. Các hệ thống văn hóa này được xem như là nền tảng cư dân – tổ chức xã hội và văn hóa của các nền văn minh thời đại Kim khí sau này.
- Hệ thống văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn: Cội nguồn văn minh, nhà nước sớm thời các quốc gia Văn Lang - Âu Lạc
Với hành trình khám phá quá khứ từ lòng đất, các nhà Khảo cổ học đã xác lập một nền văn minh sớm thuộc thời đại Kim khí ra đời và phát triển ở khu vực Bắc/Bắc Trung bộ Việt Nam, tiêu biểu là chuỗi các nền văn hóa phát triển liên tục: Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn.
Văn hóa Phùng Nguyên (cách nay khoảng trên 4.000 năm) là bước chuyển từ thời đại Đá sang thời đại Kim khí với các bằng chứng manh nha về chế tác đồ đồng cùng sự phát triển cao của kỹ thuật/mỹ thuật trong chế tác đá, làm đồ gốm và xã hội nông nghiệp định cư. Văn hóa Đồng Đậu thể hiện sự phát triển rõ rệt của kỹ nghệ luyện kim, đúc đồng và nông nghiệp trồng lúa nước. Văn hóa Gò Mun tiếp tục có những phát triển về mọi mặt từ các giai đoạn trước, tác động khá rõ tới sự phân hóa xã hội.
Văn hóa Đông Sơn là đỉnh cao văn minh thời đại Kim khí, với tri thức kỹ thuật/mỹ thuật điêu luyện đạt trình độ thời đại trong luyện kim đúc đồng và rèn sắt. Tinh hoa của nền văn hóa này thể hiện qua trống đồng – một biểu tượng mang tính “Đại khí” phản ánh tư tưởng, nhận thức thế giới quan, nhân sinh quan, bản sắc văn hóa của người Lạc Việt cùng với ý thức cộng đồng xã hội - quốc gia thống nhất. Văn hóa Đông Sơn là minh chứng rõ ràng, thuyết phục về sự tồn tại của một nền văn minh, nền tảng cho sự hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang - Âu Lạc, là kết quả tất yếu sự tiến bộ của lực lượng sản xuất, quá trình phân hóa xã hội, yêu cầu thống nhất quản lý, điều hành lao động, tập trung hóa quyền lực để phát triển và bảo vệ quốc gia. Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong lịch sử hình thành, văn hóa/văn minh, dân tộc, nhà nước đầu tiên của cư dân Việt Cổ.
Cùng với hệ thống phát triển của thời đại Kim khí ở Bắc bộ, các tuyến khác ở lưu vực sông Mã và sông Cả thuộc Bắc Trung bộ và các văn hóa khác thời đại Kim khí như văn hóa Sa Huỳnh ở Trung/Nam Trung bộ và văn hóa Đồng Nai ở Nam bộ cũng đã được nhận thức khá rõ. Đến giai đoạn muộn, các tuyến phát triển văn hóa thời đại Kim khí ở lưu vực sông mã và sông Cả hội nhập với văn hóa Đông Sơn ở Bắc bộ, trong khi đó văn hóa Sa Huỳnh và Đồng Nai mặc dù có ảnh hưởng từ văn hóa Đông Sơn nhưng vẫn có xu hướng phát triển riêng hướng tới hình thành các thể chế nhà nước sơ khai khác ở Trung/Nam trung bộ và Nam bộ.
- Khảo cổ học lịch sử khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào, tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc
Từ năm 2002 Khu di tích Hoàng thành Thăng Long đã khẳng định: Sự liên tục của trung tâm quyền lực quốc gia từ Đại La - Thăng Long - Đông Kinh - Hà Nội. Thể hiện tầm nhìn chiến lược và trình độ quy hoạch đô thị, kiến trúc, kỹ thuật xây dựng đặc sắc của các triều đại quân chủ Việt Nam. Đặc biệt, những di vật tại Khu di tích Hoàng thành Thăng Long thể hiện bản sắc dân tộc và sự giao lưu quốc tế rộng mở. Đó là những bằng chứng sống động về ý chí xây dựng quốc gia – dân tộc độc lập, tự cường mang bản sắc văn hóa độc đáo, đồng thời cho thấy sự kết hợp rất uyển chuyển giữa năng lực sáng tạo nội sinh với tiếp thu tri thức của nhân loại của các triều đại quốc gia Đại Việt.
Những thành tựu nghiên cứu văn hóa Óc Eo khẳng định những giá trị về một truyền thống cư trú, hoạt động kinh tế, các yếu tố văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, đặc trưng kiến trúc, điêu khắc và truyền thống giao thương quốc tế, trao đổi văn hóa từ sớm của các cộng đồng dân cư khu vực hạ lưu sông Mê Kông – Một phần lãnh thổ thiêng liêng, một hợp nguồn văn hóa của dân tộc Việt Nam.
- Khảo cổ học dưới nước: Khẳng định chủ quyền lãnh hải, hải đảo Việt Nam
Những con tàu đắm ở Cù Lao Chàm, Phú Quốc, Hòn Cau…; những phát hiện các di vật ở các quần đảo Trường Sa, Hoàng San, Thổ Chu, Lý Sơn… khẳng định người Việt cổ đã định cư và tham gia tuyến giao thương Biển Đông từ rất sớm - một bằng chứng xác thực chủ quyền lịch sử về biển đảo của Việt Nam, truyền đời của người Việt trên không gian biển, góp phần củng cố hệ thống luận cứ về chủ quyền theo Công ước Luật biển 1982.
Cội nguồn, bản sắc và dòng chảy văn hóa Việt Nam sẽ tiếp tục được minh định qua các các bằng chứng khảo cổ học từ sự mở rộng và nghiên cứu sâu hơn trong thời đại khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo ngày nay.


