Trao đổi

Định hình luật chơi: Dấu ấn tư duy đối ngoại của Đảng

Đức Nguyễn 23/07/2026 10:13

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế dựa trên công nghệ, dữ liệu và tiêu chuẩn, năng lực của quốc gia không chỉ thể hiện ở việc tuân thủ mà còn ở khả năng tham gia định hình luật chơi. Tham gia từ sớm giúp bảo vệ lợi ích quốc gia, mở rộng không gian chính sách và nâng cao vị thế quốc tế.

Đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19-5-2026 của Bộ Chính trị đã đặt ra một chuyển dịch có ý nghĩa chiến lược: từ ngoại giao bảo vệ không gian phát triển sang ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia; từ hội nhập thị trường sang kiến tạo thị trường; từ tham gia luật chơi sang góp phần định hình luật chơi [1, 7]. Đây không phải là sự thay đổi các nguyên tắc nền tảng, mà là bước phát triển mới của tư duy độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập quốc tế khi thế và lực đất nước được nâng lên.

Ảnh bài Đức
Ảnh do AI tạo

1. Sự kế thừa và phát triển của tư duy độc lập, tự chủ

Góp phần định hình luật chơi nhằm phát triển sâu sắc hơn nguyên tắc độc lập, tự chủ trong đối ngoại. Trong điều kiện hội nhập, độc lập, tự chủ không chỉ là quyền lựa chọn chính sách, mà còn là năng lực tác động đến môi trường trong đó các lựa chọn ấy được thực hiện. Một quốc gia có thể giữ quyền quyết định về hình thức nhưng vẫn bị thu hẹp không gian hành động nếu các tiêu chuẩn công nghệ, quy tắc dữ liệu, điều kiện thương mại hoặc cơ chế tài chính quốc tế được thiết kế mà không có sự tham gia của mình.

Bởi vậy, đứng ngoài quá trình xây dựng luật lệ không phải lúc nào cũng bảo vệ được sự tự chủ. Trong nhiều trường hợp, điều đó khiến quốc gia phải tiếp nhận các quy tắc đã hoàn chỉnh, trong khi lợi ích và điều kiện phát triển của mình chưa được phản ánh đầy đủ. Tự chủ chiến lược trong bối cảnh mới phải bao gồm khả năng xác định đúng lợi ích, đa dạng hóa quan hệ, hạn chế sự lệ thuộc quá mức, nâng cao sức chống chịu và chủ động tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi. Cách hiểu này thống nhất với tinh thần Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, theo đó hội nhập phải trở thành động lực quan trọng cho phát triển đất nước [2].

Điểm mới là nâng mục tiêu hội nhập từ tiếp nhận cơ hội lên chủ động tạo lập cơ hội. Trong những giai đoạn trước, nhiệm vụ cấp thiết của đối ngoại là phá thế bao vây, bình thường hóa quan hệ, mở rộng thị trường và tham gia các tổ chức quốc tế. Khi hội nhập sâu rộng hơn, Việt Nam từng bước chuyển từ tham dự sang đề xuất sáng kiến, đảm nhiệm vị trí quốc tế và đóng góp vào xử lý các vấn đề khu vực và toàn cầu. Chỉ thị số 25-CT/TW năm 2018 về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đã thể hiện yêu cầu chuyển từ tham gia tích cực sang chủ động đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương [3]. Đường lối mới tiếp tục nâng bước chuyển đó lên cấp độ cao hơn, gắn đối ngoại với kiến tạo năng lực phát triển và xây dựng các chuẩn mực của thời đại.

2. “Định hình luật chơi”: Bản chất, cấp độ và những luận điểm cần làm rõ

Định hình luật chơi không đồng nghĩa với việc một quốc gia đơn phương áp đặt ý chí lên phần còn lại của hệ thống. Trong quan hệ quốc tế, phần lớn quy tắc chung là kết quả của thương lượng, liên kết lợi ích và tìm kiếm đồng thuận giữa nhiều chủ thể. Việt Nam tham gia tiến trình này thông qua ba cấp độ: (i) xác lập chương trình nghị sự: (ii) xây dựng quy tắc và chuẩn mực; và (iii) cải thiện phương thức vận hành của thể chế quốc tế.

Thứ nhất, ở cấp độ xác lập chương trình nghị sự, quyền lực quốc tế không chỉ thể hiện ở khả năng quyết định kết quả cuối cùng của một cuộc thương lượng, mà còn ở khả năng xác định vấn đề nào cần được ưu tiên đưa ra thảo luận

Việt Nam có cơ sở thực tiễn để đóng góp vào các chương trình nghị sự về phát triển bền vững, an ninh nguồn nước, biến đổi khí hậu, quản trị biển, chuyển đổi số bao trùm và sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm. Một sáng kiến kết nối được nhu cầu phát triển trong nước với lợi ích khu vực và quốc tế vừa có cơ sở chính đáng, vừa có khả năng tập hợp lực lượng. Đây là điều kiện để một quốc gia chuyển từ vị thế bên "nêu vấn đề" sang tư cách "định hình cách vấn đề được giải quyết".

Thứ hai, ở cấp độ xây dựng quy tắc và chuẩn mực, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác định các lĩnh vực cần chủ động đàm phán và tham gia định hình, gồm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, thương mại số và tiêu chuẩn xanh [1]

Là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên ban hành luật trí tuệ nhân tạo độc lập, Việt Nam tham gia Đối thoại Toàn cầu về Quản trị AI do Liên hợp quốc khởi động với tư cách quốc gia có kinh nghiệm lập pháp thực tiễn để chia sẻ, không phải chỉ với tư cách bên đang học hỏi.

Thứ ba, ở cấp độ thể chế, chủ nghĩa đa phương chỉ vận hành hiệu quả khi các thể chế vừa dựa trên luật lệ, vừa đủ đại diện và công bằng

Không gian định hình quy tắc ở cấp độ này mở rộng từ phòng đàm phán sang cả phòng xét xử, nơi học thuyết pháp lý được hình thành qua từng phán quyết và ý kiến tư vấn. Ngày 18/6/2026, tại Hội nghị các Quốc gia Thành viên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ 36, phía Việt Nam, PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Anh được bầu làm Thẩm phán Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) nhiệm kỳ 2026–2035, với số phiếu cao nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đây là lần đầu tiên kể từ khi ITLOS đi vào hoạt động năm 1996, Việt Nam có đại diện tại cơ quan tài phán quốc tế quan trọng nhất về luật biển, phản ánh sự tham gia định hình luật chơi ở cấp độ thể chế, không chỉ dừng ở cấp độ chính sách.

ASEAN là nơi cả ba cấp độ trên được triển khai đồng thời. Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045 đặt mục tiêu xây dựng một ASEAN tự cường, đổi mới, năng động và lấy người dân làm trung tâm, đồng thời yêu cầu tăng cường năng lực thể chế của Hiệp hội [4]. Tại Diễn đàn Tương lai ASEAN năm 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh ASEAN cần tham gia định hình các xu thế và chuẩn mực mới, trở thành nơi công nghệ được tạo ra và chuỗi giá trị được định hình, thay vì chỉ là nơi tiếp nhận công nghệ và nơi chuỗi cung ứng đi qua [5]. Việc Việt Nam đàm phán ASEAN DEFA trên cơ sở đồng thuận, cũng như đóng góp vào tiến trình xây dựng hệ thống quản trị AI toàn cầu do Liên hợp quốc khởi xướng, cho thấy ba cấp độ xác lập chương trình nghị sự, xác lập luật lệ và xác lập thể chế đang vận hành song song.

Trên cơ sở ba cấp độ nêu trên, có thể lý giải cho hai luận điểm sau:

Luận điểm thứ nhất, đồng nhất việc tham gia định hình luật chơi với tham vọng áp đặt hoặc "chọn bên" trong cạnh tranh chiến lược. Cách diễn giải này bỏ qua chính nội dung của ba cấp độ đã trình bày: cả xác lập chương trình nghị sự, xác lập luật lệ và xác lập thể chế đều vận hành trên cơ sở đồng thuận và thương lượng, không phải áp đặt đơn phương. Chủ động hơn không đồng nghĩa với việc tạo áp lực đối đầu đối với các quốc gia khác. Nghiên cứu về chính sách đối ngoại Việt Nam cho thấy tự chủ chiến lược được củng cố thông qua đa dạng hóa quan hệ, tranh thủ lợi ích của hội nhập và giảm thiểu rủi ro từ các quan hệ phụ thuộc bất đối xứng [6]. Tự chủ, do đó, không phải là đứng ngoài luật chơi, mà là tham gia luật chơi với năng lực tự quyết cao hơn.

Luận điểm thứ hai cho rằng mục tiêu định hình luật chơi chỉ là khẩu hiệu vì năng lực hiện tại của Việt Nam còn hạn chế. Luận điểm này đúng ở chỗ chỉ ra khoảng cách cần thu hẹp, nhưng sai khi dùng khoảng cách đó để phủ nhận định hướng, vì đã nhầm lẫn giữa mục tiêu chiến lược với năng lực hiện có, vốn là kết quả của quá trình tích lũy tiềm lực quốc gia và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình hội nhập quốc tế. Hai dẫn chứng nêu ở cấp độ hai và cấp độ ba cho thấy năng lực của Việt Nam trong các lĩnh vực trọng tâm không còn ở mức khởi đầu: việc ban hành luật trí tuệ nhân tạo đầy đủ nhất Đông Nam Á phản ánh năng lực lập pháp kỹ thuật đủ để tham gia thảo luận tiêu chuẩn quốc tế với tư cách bên có kinh nghiệm thực tế; việc đại diện Việt Nam giành số phiếu cao nhất châu Á – Thái Bình Dương vào ITLOS phản ánh sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế đối với chuyên môn pháp lý Việt Nam trong lĩnh vực luật biển, lĩnh vực gắn trực tiếp với lợi ích quốc gia trên Biển Đông.

Luận điểm về "năng lực còn hạn chế" còn bỏ qua một nguyên lý cơ bản: Quá trình tham gia chính là cơ chế tích lũy năng lực, không phải điều kiện tiên quyết phải có sẵn trước khi tham gia. Kinh nghiệm Việt Nam tại ASEAN từ năm 1995 đến nay, từ thành viên mới học hỏi cơ chế, đến vai trò đề xuất sáng kiến, hai lần đảm nhiệm Chủ tịch ASEAN, và nay là đồng đàm phán DEFA, minh họa cho nguyên lý đó. Phiên thảo luận cấp cao về AI tại Đại hội đồng Liên hợp quốc tháng 9/2025 cũng cho thấy lo ngại chung của các nước đang phát triển: Nếu tiêu chuẩn AI được xây dựng chủ yếu bởi các nước phát triển, chúng sẽ không phản ánh nhu cầu và điều kiện của phần lớn nhân loại, làm sâu sắc thêm bất bình đẳng số toàn cầu. Đây là lý do việc tham gia sớm, dù năng lực chưa hoàn thiện, vẫn có giá trị chiến lược hơn việc chờ đợi đến khi "đủ năng lực".

3. Chuyển hóa tư duy mới thành năng lực quốc gia

Tư duy đối ngoại mới chỉ có ý nghĩa thực chất khi được chuyển hóa thành năng lực quốc gia. Việt Nam không chỉ cần khẳng định mục tiêu góp phần định hình luật chơi, mà còn phải xây dựng nội lực, đội ngũ chuyên môn, cơ chế phối hợp và khả năng tập hợp đối tác để hiện thực hóa mục tiêu đó. Bốn điều kiện sau đây có quan hệ bổ sung lẫn nhau, và một thước đo cuối cùng quyết định giá trị thực chất của toàn bộ định hướng. Đó là: Nội lực (kinh tế, khoa học công nghệ, thể chế và tri thức); Chuyên môn pháp lý, công nghệ và đàm phán chuyên ngành; Cơ chế phối hợp; Khả năng thiết lập quan hệ đối tác. Theo đó, lợi ích của nhân dân sẽ là thước đo. Sức thuyết phục của tư duy đối ngoại mới không nằm ở ngôn từ về vị thế, mà ở khả năng chuyển ảnh hưởng quốc tế thành thị trường, công nghệ, việc làm, sức chống chịu và chất lượng sống.

Kết luận

Chuyển từ tham gia luật chơi sang góp phần định hình luật chơi là bước phát triển phù hợp của tư duy đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới. Bước chuyển này kế thừa nhất quán đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và chủ động hội nhập quốc tế, đồng thời phản ánh vị thế, lợi ích và trách nhiệm ngày càng lớn của đất nước. Định hình luật chơi không phải là áp đặt ý chí hay chọn bên, mà là đóng góp có năng lực và trách nhiệm vào việc xây dựng chương trình nghị sự, quy tắc và thể chế công bằng, hiệu quả, dựa trên luật pháp quốc tế. Tầm nhìn chỉ trở thành sức mạnh khi được nâng đỡ bởi nội lực, tri thức, đội ngũ chuyên môn, cơ chế phối hợp và khả năng tập hợp đối tác; lấy lợi ích quốc gia - dân tộc, đóng góp cho cộng đồng quốc tế và kết quả mà nhân dân được thụ hưởng làm thước đo. Khi ấy, Việt Nam không chỉ thích ứng với một thế giới đang thay đổi, mà có thể góp phần kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi hơn cho hòa bình, hợp tác và phát triển./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Tô Lâm, “Triển khai đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước”, Tạp chí Cộng sản, 11-6-2026.

[2] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24-1-2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

[3] Ban Bí thư, Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 8-8-2018 về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030.

[4] ASEAN, ASEAN 2045: Our Shared Future, ASEAN Secretariat, Jakarta, 2025.

[5] Lê Minh Hưng, “Bài phát biểu tại Phiên khai mạc Diễn đàn Tương lai ASEAN lần thứ ba”, Báo Nhân Dân, 9-6-2026.

[6] Nicholas Chapman, “Vietnamese Foreign Policy in the Post-Doi Moi Era: A Case for Strategic Autonomy”, TRaNS: Trans-Regional and -National Studies of Southeast Asia, 2026, tr. 1–24.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 2026.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    Định hình luật chơi: Dấu ấn tư duy đối ngoại của Đảng
    • Mặc định
    trống đồng