Góc nhìn khoa học xã hội

Đảng Cộng sản Việt Nam với chính sách an sinh xã hội của lao động người nước ngoài tại Việt Nam

Hải Bình 17/03/2026 19:30

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định đường lối đổi mới, chủ động hội nhập với phương châm độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Một trong những biểu hiện sinh động của đường lối đó là việc Việt Nam ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của lao động người nước ngoài (LĐNNN) có trình độ, tay nghề cao, minh chứng rõ nét cho sức hút của môi trường đầu tư, kinh doanh được xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việc bảo đảm quyền an sinh xã hội (ASXH) cho LĐNNN không chỉ là nghĩa vụ pháp lý quốc tế, mà còn là hiện thực hóa quan điểm nhất quán của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mục tiêu "không để ai bị bỏ lại phía sau". Bài viết phân tích đường lối của Đảng về an sinh xã hội và thu hút LĐNNN trong thời kỳ đổi mới, khẳng định những thành tựu quan trọng đạt được trong xây dựng hệ thống pháp luật an sinh xã hội đối với LĐNNN, chỉ ra những hạn chế cần khắc phục và đề xuất các giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới.

1. Đường lối của Đảng về an sinh xã hội và thu hút lao động nước ngoài trong thời kỳ đổi mới

Thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người chính là bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Đây là chủ trương nhất quán của Đảng ta được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ; được cụ thể hóa trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, và gần đây nhất là trong Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định ASXH là một trong những trụ cột quan trọng của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh mục tiêu "giải quyết tốt các chính sách xã hội, bảo đảm an ninh, an sinh, an toàn, an dân" và “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số”. Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 23-5-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội” xác định “Cải cách chính sách bảo hiểm xã hội để bảo hiểm xã hội thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ bảo hiểm xã hội, hướng tới mục tiêu bảo hiểm xã hội toàn dân”. Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã bổ sung, phát triển, làm rõ hơn nhận thức mới trong bối cảnh tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ mới đã ban hành Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023 “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, trong đó tiếp tục khẳng định: Chính sách xã hội là chính sách đối với con người, vì con người. Quan điểm này của Đảng đã mở rộng ra toàn bộ chính sách xã hội khác. Việc giải quyết các vấn đề xã hội từ Nhà nước đóng vai trò nòng cốt và chủ yếu chuyển sang Nhà nước đóng vai trò chủ đạo đi đôi phát huy vai trò quan trọng của doanh nghiệp, thị trường, các tổ chức xã hội, từ bảo đảm và ổn định sang ổn định và phát triển; gắn với quản lý phát triển xã hội bền vững, nâng cao phúc lợi xã hội toàn dân, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, an ninh xã hội”. Trong bối cảnh đó, chính sách đối với LĐNNN không thể tách rời hệ thống ASXH quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặt ra nhu cầu thu hút lao động có kỹ năng, chuyên môn cao từ nước ngoài để bổ sung những thiếu hụt của thị trường lao động trong nước, đặc biệt ở cấp độ lao động quản lý, kỹ sư và công nhân kỹ thuật bậc cao. Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 5/11/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt nền tảng cho chính sách mở cửa có kiểm soát này, với trọng tâm là "giữ vững ổn định chính trị - xã hội" trong khi thúc đẩy hội nhập toàn diện. Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 09/9/2021 của Ban Bí thư nhấn mạnh việc thu hút, quản lý và sử dụng hiệu quả lao động nước ngoài tại Việt Nam, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, kỹ thuật cao và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, theo đó tăng cường kiểm tra, rà soát, bảo đảm quy định pháp luật và điều ước quốc tế nhằm tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp, tổ chức trong việc tuyển dụng lao động nước ngoài. Đây là định hướng khoa học, biện chứng, phản ánh bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Đảng trong điều kiện quốc tế phức tạp, đồng thời bác bỏ các luận điệu xuyên tạc cho rằng Việt Nam "đóng cửa" hay "vi phạm các cam kết lao động quốc tế".

2. Thành tựu trong xây dựng hệ thống pháp luật an sinh xã hội đối với lao động người nước ngoài

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về ASXH đối với LĐNNN, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và sự chủ động hội nhập quốc tế có nguyên tắc. Thành tựu nổi bật nhất là Việt Nam đã hình thành được một khung pháp lý tương đối đầy đủ về ASXH đối với LĐNNN, trải rộng trên các lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn vệ sinh lao động và công đoàn. Về bình diện chung, đến hết năm 2024, cả nước có khoảng 20,159 triệu người tham gia BHXH, 16,133 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp95,523 triệu người tham gia BHYT, tương ứng khoảng 94,29% dân số có BHYT. Các con số này cho thấy nền tảng ASXH quốc gia đã được mở rộng đáng kể, tạo điều kiện để từng bước bao phủ tốt hơn đối với nhóm LĐNNN làm việc hợp pháp tại Việt Nam[1]. Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung qua nhiều lần, gần nhất là năm 2024), Luật Bảo hiểm y tế, Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo nên một khung pháp lý tương đối toàn diện, bảo đảm quyền ASXH cho LĐNNN trên các phương diện: bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Đây là bước tiến lớn so với giai đoạn trước đổi mới, khẳng định rằng chính sách xã hội của Việt Nam không bị bóp méo bởi các mục tiêu kinh tế đơn thuần mà luôn đặt con người vào trung tâm. Điểm nổi bật là các chế độ ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp của LĐNNN được áp dụng tương đương với người lao động Việt Nam, thể hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ lao động, phù hợp với các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam là thành viên, bao gồm CPTPP và EVFTA. Luật Công đoàn năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2025) quy định tại khoản 2 Điều 5 “người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hợp đồng lao động từ đủ 12 tháng trở lên có quyền gia nhập Công đoàn Việt Nam và hoạt động tại công đoàn cơ sở”. Quy định này mở rộng thêm cơ chế đại diện, hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi cho LĐNNN trong quan hệ lao động, qua đó bổ sung một lớp bảo đảm xã hội - nghề nghiệp quan trọng bên cạnh các chế độ bảo hiểm[2], thể chế hóa quyền gia nhập và hoạt động công đoàn của LĐNNN có hợp đồng lao động từ đủ 12 tháng trở lên, điều này trực tiếp hiện thực hóa đường lối của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản của ILO về quyền tự do hiệp hội và thương lượng tập thể. Cùng với đó, Nghị định số 219/2025/NĐ-CP Ngày 7/8/2025 được ban hành đã sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài tại Việt Nam đã đơn giản hóa các thủ tục hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động của lao động nước ngoài, lồng ghép thủ tục báo cáo giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài vào thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động, giúp đơn giản hóa hồ sơ và rút ngắn thời gian xử lý; mở rộng danh mục người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động. Ngoài ra, trên phương diện hợp tác quốc tế, Hiệp định song phương về BHXH giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2024 thể hiện ý nghĩa thực tiễn trong việc tránh đóng hai lần và tạo cơ sở công nhận, phối hợp xử lý thời gian đóng BHXH giữa hai quốc gia, qua đó góp phần bảo đảm quyền lợi cho người lao động di chuyển xuyên biên giới. Đây là kinh nghiệm quan trọng cho việc mở rộng hợp tác song phương về ASXH với các quốc gia có số lượng lớn công dân làm việc tại Việt Nam trong thời gian tới.

Những thành tựu pháp lý nói trên không thể tách rời vai trò lãnh đạo và định hướng của Đảng, phản bác luận điệu của các thế lực thù địch khi cố tình phủ nhận, xuyên tạc rằng hệ thống pháp luật lao động Việt Nam "kém phát triển" hay "không bảo vệ quyền lợi người lao động". Thời gian qua, hệ thống các quy định pháp luật về đảm bảo ASXH đối với LĐNNN làm việc tại Việt Nam được ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ đã góp phần quan trọng thu hút lao động nước ngoài, nhất là nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật cao, có kinh nghiệm trong quản lý điều hành, các nhà đầu tư vào Việt Nam làm việc, bù đắp thiếu hụt lao động trình độ cao cho Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang thu hút các nhà đầu tư có năng lực, tài chính, các chuyên gia, người lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao làm việc trong những ngành, nghề mới như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số ... hiện nay.

3. Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân khách quan

Nhìn nhận khách quan và thẳng thắn theo tinh thần tự phê bình mà Đảng luôn đề cao, hệ thống pháp luật ASXH đối với LĐNNN hiện vẫn còn một số hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện, đó là: (i) Hệ thống quy định pháp luật về ASXH đối với LĐNNN hiện còn rời rạc, chưa được pháp điển hóa trong một văn bản thống nhất. Các quy định về bảo hiểm thất nghiệp chưa bao phủ đối tượng LĐNNN do đặc thù hợp đồng có thời hạn; quy định về trợ giúp xã hội chưa đề cập trực tiếp đến LĐNNN trong các tình huống khó khăn đột xuất. Còn tồn tại sự chênh lệch trong quy định về thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc giữa lao động Việt Nam (hợp đồng từ đủ 01 tháng trở lên) và LĐNNN (hợp đồng từ đủ 12 tháng trở lên), đây là điểm cần nghiên cứu điều chỉnh để đảm bảo tính tương thích với các cam kết quốc tế và nguyên tắc không phân biệt đối xử trong lao động. Bảo hiểm thất nghiệp hiện chưa bao phủ LĐNNN. Căn cứ Luật Việc làm năm 2025, luật này áp dụng đối với người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên; vì vậy, về mặt pháp lý, LĐNNN không thuộc đối tượng tham gia và hưởng chế độ BHTN. Đây là khoảng trống chính sách quan trọng nếu nhìn từ góc độ ASXH toàn diện cho lao động di cư, nhất là trong bối cảnh thị trường lao động có nhiều biến động; (ii) Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi BHXH, BHYT trong các doanh nghiệp sử dụng LĐNNN còn chưa đủ chặt chẽ; tình trạng nợ đọng, trốn đóng bảo hiểm vẫn diễn ra tại nhiều địa phương; (iii) Cơ sở dữ liệu về LĐNNN chưa được liên thông đồng bộ, gây khó khăn cho công tác quản lý và định danh. Tình trạng lao động nước ngoài nhập cư bất hợp pháp cũng gia tăng trong những năm gần đây, đặt ra thách thức về quản lý nhà nước và bảo đảm trật tự xã hội. Cần nhấn mạnh rằng những hạn chế này là hệ quả của quá trình phát triển nhanh, đặt ra yêu cầu hoàn thiện liên tục của hệ thống pháp luật, không phải là bằng chứng để phủ nhận tính đúng đắn của đường lối hay vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực này, như một số luận điểm thiếu thiện chí đã cố tình diễn giải.

4. Định hướng hoàn thiện chính sách về an sinh xã hội đối với lao động người nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết của Đảng

Để tiếp tục hoàn thiện chính sách ASXH đối với LĐNNN, phát huy những thành tựu đã đạt được và khắc phục những tồn tại, bài viết đề xuất một số định hướng, giải pháp trên cơ sở bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, đó là:

Thứ nhất, cần đẩy nhanh quá trình xây dựng Luật Quản lý lao động di cư quốc tế thống nhất, điều chỉnh cả người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài và LĐNNN vào Việt Nam. Đây là bước đi phù hợp với yêu cầu pháp điển hóa, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, một nhiệm vụ được Đảng xác định trong Chiến lược cải cách pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; nghiên cứu lộ trình mở rộng bao phủ ASXH đối với LĐNNN, nhất là đối với nhóm làm việc có thời hạn ngắn hơn 12 tháng nhưng có quan hệ lao động ổn định, đóng góp thực tế cho doanh nghiệp và nền kinh tế.

Thứ hai, tiếp tục mở rộng các hiệp định song phương về BHXH theo mô hình Việt Nam - Hàn Quốc để hạn chế tình trạng đóng trùng, tạo cơ chế cộng nối thời gian đóng và bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người lao động xuyên biên giới.

Thứ ba, đổi mới chính sách thu hút LĐNNN có trình độ chuyên môn và kỹ thuật cao thông qua việc xây dựng các gói hỗ trợ phù hợp: trung tâm thông tin pháp luật lao động, hỗ trợ ngôn ngữ, chế độ đãi ngộ và trợ cấp xã hội có điều kiện cho LĐNNN và thành viên gia đình họ. Chính sách hấp dẫn sẽ giảm thiểu tình trạng nhập cư bất hợp pháp, tạo dựng môi trường lao động lành mạnh, phù hợp với quy luật khách quan của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra liên ngành trong thực thi BHXH, BHYT, xử lý nghiêm các hành vi trốn đóng, nợ đọng bảo hiểm; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để liên thông dữ liệu về LĐNNN giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Đây là yêu cầu thiết yếu để Nhà nước thực sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, cả trong nước lẫn nước ngoài, theo đúng tinh thần mà Đảng đã xác định.

Thứ năm, thúc đẩy tuyên truyền, phổ biến pháp luật bằng nhiều ngôn ngữ, thực hiện chuẩn hóa dịch vụ công trực tuyến, kết nối dữ liệu giữa cơ quan cấp phép lao động và cơ quan BHXH, BHYT, từ đó giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và nâng cao khả năng tiếp cận quyền lợi của LĐNNN. Khi số lượng LĐNNN tại Việt Nam đã lên tới gần 162 nghìn người vào cuối năm 2024, yêu cầu chuyển từ “quản lý theo vụ việc” sang “quản trị bằng dữ liệu và dịch vụ công số” là rất rõ ràng.

Thứ sáu, mở rộng hợp tác quốc tế song phương và đa phương trong quản lý lao động di cư, hài hòa hóa các quy tắc, chuẩn mực quốc tế với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Việt Nam đã và đang là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các tổ chức lao động quốc tế, điều này cần được phản ánh đầy đủ hơn trong hệ thống pháp luật ASXH đối với LĐNNN.

Bảo đảm an sinh xã hội đối với lao động người nước ngoài tại Việt Nam là một lĩnh vực phản ánh sinh động bản chất nhân văn và tiến bộ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ việc ban hành khung pháp lý toàn diện, từng bước điều chỉnh theo cam kết quốc tế, đến phương châm "không để ai bị bỏ lại phía sau", bao gồm cả LĐNNN, tất cả đều thể hiện tính nhất quán trong đường lối của Đảng về phát triển con người toàn diện và xây dựng xã hội công bằng, văn minh. Những hạn chế còn tồn tại là cơ sở để tiếp tục đổi mới và hoàn thiện, chứ không phải là lý do để phủ nhận thành tựu hay vai trò lãnh đạo của Đảng. Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045, việc xây dựng hệ thống ASXH vững chắc, bao phủ toàn diện, trong đó có LĐNNN, chính là một trong những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.


Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    Đảng Cộng sản Việt Nam với chính sách an sinh xã hội của lao động người nước ngoài tại Việt Nam
    • Mặc định
    trống đồng