Góc trẻ

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

D.D.L 27/07/2026 09:06

Bài viết tập trung vào ba cội nguồn sức mạnh cốt lõi giúp Đảng đạt được những thành tựu cách mạng: (1) Sức mạnh từ sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) Sức mạnh từ việc khơi dậy truyền thống yêu nước của Nhân dân - Dân tộc; (3) Tầm nhìn chiến lược trong việc nắm bắt và tận dụng các điều kiện quốc tế. Qua đó, nghiên cứu đi đến kết luận rằng bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng chính là bảo vệ động lực phát triển bền vững và sự sống còn của chế độ

1. Mở đầu

Trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản không chỉ đơn thuần dừng lại ở phương diện quản trị chính trị, mà còn là nhân tố quyết định tạo nên động lực nội sinh thúc đẩy sự phát triển toàn diện của xã hội. Vai trò của Đảng không chỉ dừng lại trong việc hoạch định chiến lược mà còn là lực lượng tổ chức, quy tụ mọi nguồn lực từ nội lực đến ngoại lực hướng về một mục tiêu thống nhất. Với bản chất là hạt nhân đoàn kết toàn dân về chính trị, tư tưởng và tổ chức, Đảng biến những khả năng khách quan của chế độ thành hiện thực sinh động thông qua hoạt động tổ chức tự giác và khoa học. Việc hiểu vai trò lãnh đạo của Đảng chính là chìa khóa then chốt để đập tan những xuyên tạc của các đối tượng luôn hướng tới chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, không một tổ chức chính trị nào có được năng lực tư tưởng và sức mạnh tổ chức vô song như Đảng Cộng sản, dẫn dắt hàng triệu quần chúng vượt qua những khúc quanh cam go của lịch sử. Cần khẳng định rằng, nếu không hiểu rõ vai trò đặc biệt của Đảng trong sự phát triển của xã hội, chúng ta sẽ không thể thấu hiểu được động lực xã hội chủ nghĩa. Như tác gỉa Công-Stăng-Ti-Nốp đã chỉ rõ: “Đảng làm cho tác dụng của mọi động lực của xã hội chủ nghĩa đều tập trung hướng về một mục tiêu thống nhất”[1,Tr.43]. Bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng chính là bảo vệ động lực phát triển bền vững của dân tộc và sự sống còn của chế độ.

2. Sự chuyển hóa từ khả năng khách quan thành hiện thực xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng

Khi nghiên cứu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, việc kiến giải cội nguồn sức mạnh và vai trò lãnh đạo của Đảng đòi hỏi phải dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đặc biệt, nguyên tắc thống nhất giữa cái lịch sử và cái logic trong phép biện chứng duy vật cung cấp cơ sở khoa học để làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa nhân tố chủ quan (lý luận, chủ thể lãnh đạo) và điều kiện khách quan (thực tiễn lịch sử). Theo đó, bất kỳ hiện tượng xã hội nào cũng phải được xem xét trong chỉnh thể các mối liên hệ phổ biến và trong điều kiện nó chịu sự quy định của các tiền đề lịch sử cụ thể.

Trong thực tiễn, mọi sự vật, hiện tượng đều mang trong mình một quá trình vận động nội tại, phản ánh mức độ chín muồi của các điều kiện khách quan. Tuy nhiên, với tư cách là nhân tố vạch đường, lý luận không phản ánh thực tiễn một cách thụ động hay máy móc. Ngược lại, lý luận mang tính độc lập tương đối, không ngừng tự vận động, hoàn thiện để vươn lên định hướng và cải tạo thực tiễn theo mục tiêu chủ quan của giai cấp lãnh đạo. Từ cơ sở phương pháp luận đó, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định, để một chủ thể chính trị - xã hội hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong việc cải tạo hiện thực, cần hội tụ đủ ba điều kiện cốt lõi: (1) Sự chín muồi của các tiền đề thực tiễn khách quan; (2) sự phát triển vượt bậc của hệ thống lý luận cách mạng soi đường; (3) bản chất giai cấp cùng bản chính chính tị vững vàng của chủ thể lãnh đạo.

Sự phát triển và chuyển hóa này tuân theo những quy luật biện chứng sâu sắc, thống nhất từ giới tự nhiên đến xã hội loài người. Nhấn mạnh tính biện chứng của sự phát triển lịch sử, Ph.Ăngghen đã từng đúc kết: “ Tự nhiên như là hòn đá thử vàng của phép biện chứng […] tự nhiên không vận động theo cái vòng tròn vĩnh viễn giống nhau, thường xuyên cứ lặp đi lặp lại mãi, mà tự nhiên có một lịch sử hiện thực”[8,Tr.9-10]. Lập luận này đặc biệt được minh chứng qua học thuyết tiến hóa của Đác-uyn đã giáng một đòn mạnh mẽ vào phương pháp tư duy siêu hình, qua đó khẳng định toàn bộ thế giới khách quan, từ giới hữu cơ, động thực vật đến xã hội con người, đều là sản phẩm của một quá tình phát triển lịch sử hiện thực lâu dài.

media.vov.vn-sites-default-files-styles-large-public-2025-09-_dai-hoi-dang-toan-quoc-14.jpg

Quán triệt thế giới quan và phương pháp luận biện chứng nêu trên, bài viết đi sâu phân tích qúa trình hội tụ và phát huy sức mạnh tổng hợp của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính sự nhạy bén trong việc nắm bắt quy luật khách quan và sự trưởng thành về bản lĩnh chính trị (nhân tố chủ quan) đã giúp Đảng lãnh đạo thành công quá trình chuyển hóa các khả năng khách quan thành hiện thực cách mạng, giành lấy những thành tựu to lớn trong lịch sử dân tộc.

2.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Nền tảng tư tưởng và sức mạnh nội sinh của Đảng

Chủ nghĩa Mác – Lênin là lý luận chính trị do C. Mác (1818 - 1883) và Ph. Ăngghen (1821 - 1895) xây dựng cùng với V.I.Lênin (1870 – 1924) phát triển. Chủ nghĩa Mác – Lênin bao gồm ba bộ phận cấu thành chủ yếu là Triết học Mác - Lênin; kinh tế học chính trị Mác – Lênin và học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa và và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) vào tình hình thực tiễn của Việt Nam trên cơ sở kết hợp giữa những tư tưởng tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Với tư cách là lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác – Lênin được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. “Kim chỉ nam” ở đây được hiểu với hàm nghĩa rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin là thế giới quan, là “lăng kính” về tư duy để Đảng quan sát và phân tích tình hình thực tiễn nhằm đưa ra những chủ trương phù hợp. Các nhà nghiên cứu thống nhất rằng, nhờ vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng đã đưa ra những đường lối đúng đắn vào những thời điểm cấp thiết nhất của cách mạng. Điều này đến từ bản thân sự chính xác về khoa học và tinh thần tiến bộ, nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Mặc dù lấy sự tôn trọng phẩm giá con người làm tiền đề tư tưởng khi coi con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin không nhìn nhận vấn đề ấy một cách lãng mạn, không tưởng mà dựa trên những luận cứ khoa học. Chủ nghĩa Mác – Lênin xác định, cơ sở phát triển của xã hội loài người là sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội, trong đó yếu tố lực lượng sản xuất quyết định trình độ phát triển của quan hệ sản xuất, còn bản thân quan hệ sản xuất lại cấu thành cơ sở hạ tầng và thông qua đó quyết định kiến trúc thượng tầng của xã hội. Dựa trên nhận định này, chủ nghĩa Mác – Lênin phân tích sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong kinh tế học chính trị khi chỉ ra rằng với “những mâu thuẫn chủ yếu hiện nay của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, hình thái kinh tế xã hội mà phương thức ấy là cơ sở sẽ khủng hoảng và sụp đổ, mở ra một thời đại mới với một hình thái kinh tế xã hội mới mang tên cộng sản chủ nghĩa”[4]. Xã hội cộng sản chủ nghĩa là xã hội hướng đến một chế độ không còn cơ sở cho người bóc lột người, giai đoạn đầu của nó là chế độ xã hội chủ nghĩa.

file3.qdnd.vn-data-images-0-2026-01-06-upload_2072-_co-dang.jpg

Cho đến hiện nay, dù Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa quốc tế đã sụp đổ, nhưng sự phê phán của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với sự vận hành của chế độ tư bản chủ nghĩa vẫn luôn đúng đắn và cần thiết. Nhờ nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, một mặt Đảng có thể nhận thức chính xác bản chất của thời đại, mặt khác Đảng có thể nhanh chóng vượt qua những hạn chế và khắc phục khuyết điểm để có những sách lược thích hợp với nhiệm vụ cách mạng được đặt ra.

Không chỉ vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng còn có sự sáng tạo học thuyết này với những điều kiện cụ thể ở Việt Nam, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ ra những nguyên tắc căn bản mà cách mạng Việt Nam cần có trong giai đoạn lịch sử mới của dân tộc.

- Thứ nhất, quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc[3; 7]. Theo quan điểm này thì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối liên kết chặt chẽ, độc lập dân tộc là điều kiện cơ bản của quá trình tiến lên chủ nghĩa xã hội, ngược lại, chủ nghĩa xã hội là cơ sở và điều kiện để độc lập dân tộc được trường tồn.

- Thứ hai, tư tưởng về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong tác phẩm Đường kách mệnh (1927), Người cho rằng Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy[6,Tr.289]. Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng[6,Tr.406]. Đảng là lực lượng đóng vai trò tiên phong của cách mạng Việt Nam, và vai trò đến từ phẩm chất của Đảng như sự sáng suốt về lý luận với việc nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin; sự gần gũi, phấn đấu và hi sinh hết mình vì quyền lợi của nhân dân, của dân tộc; cơ chế tập trung dân chủ như là hình thức tổ chức đặt tiền đề cho sức mạnh hành động của Đảng; phê bình và tự phê bình để củng cố sự trong sạch của Đảng.

- Thứ ba, tư tưởng về bản chất Nhà nước hiện đại của Việt Nam.

Nhà nước hiện đại của Việt Nam đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước với ba phương châm và năm nội dung.

- Trong đó ba phương châm là: của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

- Năm nội dung: Thứ nhất, nhà nước pháp quyền phải bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công giữa các cơ quan trong thực hiện nhiệm vụ. Thứ hai, nhà nước pháp quyền phải là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Thứ ba, nhà nước pháp quyền phải quản lý xã hội bằng pháp luật. Thứ tư, nhà nước pháp quyền có sự thống nhất giữa đạo đức và pháp luật. Thứ năm, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất, toàn diện của đảng cộng sản [9].

- Thứ tư, tư tưởng về vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vai trò của sự đoàn kết mọi nhóm người trong xã hội không phân biệt đoàn thể, tôn giáo, giai cấp nhằm hướng đến một mục tiêu chung là duy trì vững chắc nền độc lập của dân tộc. Người coi đoàn kết là sức mạnh nội sinh của dân tộc, khai thác được sức mạnh ấy thì Đảng có thể làm được mọi thứ, nhưng để làm được điều đó thì bản thân Đảng phải luôn giữ vững phẩm chất là lực lượng lãnh đạo cách mạng. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đánh giá chính xác vị thế của phong trào cách mạng quốc tế trong cách mạng Việt Nam, Người coi đó không phải là yếu tố quyết định căn bản, nhưng là điều kiện tiên quyết để cách mạng Việt Nam nhận được những sự giúp đỡ vượt trội nhằm tạo ra sự thay đổi về cơ sở vật chất để phong trào giải phóng dân tộc và sau đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội được diễn ra thuận lợi.

Cũng giống như chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phân tích trực tiếp hiện thực của xã hội Việt Nam chứ không phải là kết quả của những suy ngẫm tư biện. Nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có tính lý luận, mà còn có tính hành động. Những quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh được đánh giá là đúng đắn, bằng chứng đến từ những thành công mà Đảng đã có được trong suốt lịch sử vì đã vận dụng những nội dung đó. Đối với chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề không phải là xây dựng một học thuyết đứng im, chỉ đơn thuần nói lên hiện thực, mà lý luận ấy phải đóng vai trò là động lực cho hành động thay đổi hiện thực đó theo hướng tích cực hơn, đó không chỉ là sự kế thừa tinh thần khoa học nhưng nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn là sự kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc.

Tóm lại, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sức mạnh nội lực của Đảng. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vạch ra bản chất xã hội Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung sẽ tiến đến, vị trí của Đảng Cộng sản Việt Nam trên con đường đó, những phẩm chất cần có của Đảng từ tinh thần, tư tưởng, kỉ luật, tổ chức ... để đáp ứng vị trí đó, những điều kiện khách quan mà Đảng cần tận dụng từ vị trí đó. Sự chính xác ở mức độ toàn diện và căn bản trong thế giới quan của Đảng đã giúp cho Đảng giữ vững vị trí lãnh đạo và đã phát huy tối đa vị trí lãnh đạo ấy để đưa cách mạng Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Từ sức mạnh nội lực này, Đảng đã vận dụng nhuần nhuyễn và thành công những sức mạnh khách quan khác, đó là sức mạnh của Nhân dân – Dân tộc và sức mạnh của điều kiện thực tiễn.

2.2. Khơi dậy và phát huy sức mạnh Nhân dân - Dân tộc: Cội nguồn sức mạnh

Nhân dân và Dân tộc Việt Nam có rất nhiều những phương diện khác nhau, nhưng phương diện có tính chất truyền thống lâu đời nhất, đóng vai trò nền tảng và là yếu tố thống nhất toàn dân tộc lại với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đó là lòng yêu nước.

Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh giá: “[...] Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Nhận định này cho thấy, Hồ Chí Minh coi truyền thống yêu nước của nhân dân ta là một thành tố căn bản, kết thành sức mạnh tiềm tàng của dân tộc. Trần Văn Giàu từng xác định, lòng yêu nước trở thành “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị” là “động lực tình cảm lớn nhất, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống các giá trị đạo đức của dân tộc”[2,Tr.72]. Lòng yêu nước ở Việt Nam đã tiến đến một trình độ phát triển tương đối cao của dân tộc tức là chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước được biểu hiện thành những hình thức khác nhau như quan niệm truyền thống về nghĩa vụ của đồng bào, về lòng yêu nước thương nòi, những quan niệm về khả năng huy động toàn dân chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ... Vận dụng học thuyết Mác – Lênin về vấn đề “cái tư tưởng”, chúng ta có thể nhìn nhận rằng, truyền thống yêu nước của nhân dân ta đóng vai trò là thể chế tự phát của xã hội Việt Nam, yêu nước là phương thức tồn tại (hay hình thức tồn tại) chung nhất của mối quan hệ giữa con người Việt Nam với các điều kiện lịch sử xoay quanh họ. Bối cảnh lịch sử đặc thù của dân tộc Việt Nam gắn liền với những cuộc khởi nghĩa nhằm giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của ngoại bang hoặc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin đã cho chúng ta nhìn nhận ra nhân tố trung gian để bối cảnh lịch sử ấy tác động và chuyển hóa thành truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam là hình thái kinh tế - xã hội của từng thời kỳ khác nhau trong lịch sử dân tộc. Đối với những hình thái kinh tế - xã hội tồn tại từ xa xưa ở Việt Nam, tùy vào những điều kiện khác nhau mà người ta xây dựng hình thức tổ chức xã hội, đặc biệt là hình thức tổ chức lao động, nhằm sản xuất ra tổng sản phẩm xã hội với một phần lớn trong số đó được sử dụng để phục vụ cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Phương thức sản xuất và phân phối tổng sản phẩm xã hội nhằm mục tiêu bảo vệ Tổ quốc đã in lại dấu ấn tư tưởng lên tinh thần con người Việt Nam một cách thường xuyên nhờ yêu cầu tái sản xuất của hình thái kinh tế - xã hội. Đối với thực tiễn, hiểu được điều này là chìa khóa để Đảng có thể chứng minh vai trò lãnh đạo của mình đối với dân tộc.

Trong bối cảnh hiện nay, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã ngày càng bộc lộ những hạn chế, đặc biệt là tính chất phản nhân đạo của nó trên nhiều lĩnh vực đã tạo ra những mâu thuẫn không thể tránh khỏi. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng cho thấy nó không phải là con đường bền vững để đưa toàn thể người dân Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đến với tự do và hạnh phúc, bởi bản chất của phương thức sản xuất ấy dựa trên sự bần cùng hóa đại bộ phận của người dân nhằm làm giàu cho một thiểu số. Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa mà Đảng là lực lượng đại diện, Đảng lãnh đạo là một sự khác biệt về chất, bởi khả năng tổ chức sản xuất của chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng xây dựng không chỉ tập trung được nguồn lực xã hội để bảo vệ đất nước trong giai đoạn hiện nay, mà còn có khả năng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của nhân dân, khiến cho đời sống của nhân dân được phát triển toàn diện và tạo điều kiện tự thân cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngày càng thay đổi về chất, đó cũng là bản chất của quan điểm mà Đảng và Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong đó, “(1)Đảng ta đã giải quyết đúng đắn, toàn diện, hài hòa mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ về kinh tế với hội nhập quốc tế và các lĩnh vực khác. (2) Nội dung xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của Đảng ta là khoa học, chính xác, khả thi, phù hợp với thực tiễn hiện nay”[11,Tr.159,160]

Qua đó có thể khẳng định: Nhân dân và dân tộc là sức mạnh khách quan đầu tiên mà Đảng có được. Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã xây dựng quan điểm về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện mong muốn dân giàu, nước mạnh. Mục tiêu là để khai thác đặc trưng của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước đã được kết tinh, rèn luyện và liên tục được tái định hình thông qua hoạt động sản xuất, cải tạo thực tiễn và bảo vệ Tổ quốc qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử.

2.3. Nắm bắt điều kiện quốc tế và quy luật kinh tế: Tầm nhìn chiến lược và năng lực kiến tạo chế độ mới

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chỉ ra rằng, với tư cách là một bộ phận của cách mạng quốc tế, tình thế cách mạng Việt Nam phụ thuộc rất chặt chẽ vào những bước tiến của phong trào cách mạng quốc tế. Giai đoạn sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, hệ thống đế quốc bị suy yếu trầm trọng, phong trào đấu tranh vì dân chủ và hòa bình lên cao, tạo điều kiện cho Đảng lãnh đạo toàn dân thông qua Mặt trận Việt Minh giành chính quyền nhanh chóng. Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đảng đã tận dụng rất chặt chẽ sự thắng thế nhanh chóng của các phong trào tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là phong trào phản chiến ở các nước tư bản chủ nghĩa. Kể từ năm 1986, nhận thức xu hướng khủng hoảng nghiêm trọng dẫn đến sự sụp đổ của khối xã hội chủ nghĩa, Đảng đã nhanh chóng thay đổi chính sách đối ngoại, vượt qua thời kỳ khủng hoảng. Đến nay con đường đối ngoại của Việt Nam được khẳng định bởi sự mềm dẻo và linh hoạt bằng con đường ngoại giao “cây tre” - “Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tư tưởng, ngoại giao Hồ Chí Minh, quyết tâm xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”[10,Tr.17], nhấn mạnh xu thế hòa bình hợp tác để phát triển, chống xu thế đơn cực hoặc đối đầu giữa các siêu cường. Hiện nay, điều kiện quốc tế đang mâu thuẫn lớn giữa các siêu cường, phong trào dân chủ, hòa bình trên thế giới đang tăng cao,… Lúc này, chúng ta nhìn nhận thẳng thắn và đánh giá một cách công tâm về sức mạnh của Đảng cộng sản đóng vai trò là chủ thể kiến tạo trực tiếp đóng góp vào hòa bình thế giới thông qua con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trong lịch sử, thông qua hoạt động lãnh đạo và chỉ đạo chiến lược, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng và củng cố vững chắc khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Thành quả vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ là thắng lợi trong việc lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, phong kiến mà còn là tiền đề quyết định để xóa bỏ hiện tượng người bóc lột người, đặt nền móng vững chắc cho công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sự lãnh đạo của Đảng bao quát toàn diện mọi phương diện của đời sống xã hội, từ quản lý sản xuất vật chất đến định hướng tư tưởng và văn hóa. Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam, Đảng vạch ra định hướng cốt lõi là hiện thực hóa khát vọng “dân giàu, nước mạnh”, từng bước xóa bỏ tận gốc rễ mầm mống của chế độ người bóc lột người. Xa hơn nữa, sự lãnh đạo ấy không chỉ nhằm củng cố vững chắc nền độc lập quốc gia mà còn đóng góp vào nền hòa bình thế giới - nơi các dân tộc tôn trọng độc lập chủ quyền, không xâm phạm lẫn nhau, qua đó tích cực ủng hộ các phong trào tiến bộ quốc tế (xem thêm:[5]). Tựu trung lại, thực tiễn đó đã minh chứng cho một bản chất sâu sắc: “Đảng Cộng sản không những là Đảng chấp chính, mà là người tổ chức chế độ xã hội mới”[1].

Vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng của Đảng đối với xã hội không ngừng tăng lên. Điều này xuất phát từ đặc điểm cốt lõi của kinh tế xã hội chủ nghĩa: thay thế tính tự phát của chủ nghĩa tư bản bằng tính tự giác và có kế hoạch. Thực tiễn lịch sử chứng minh rằng chính sách đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Theo quan điểm Mác-xít, chính trị không thể không chiếm địa vị ưu tiên hơn kinh tế. Điều này không có nghĩa là chính trị quyết định chế độ kinh tế một cách chủ quan, mà có nghĩa là: Để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế đã chín muồi, trước hết giai cấp cách mạng phải có năng lực giữ vững chính quyền và có chính sách đúng đắn. Chính sách của Đảng là biểu hiện tự giác của tính tất yếu kinh tế. Đảng không sáng tạo ra quy luật, nhưng Đảng nhận thức sâu sắc các quy luật khách quan để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Sức mạnh của Đảng nằm ở khả năng nhìn xa trông rộng, kịp thời phát hiện nhu cầu phát triển của xã hội và huy động lực lượng quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chiến lược như công nghiệp hóa và tập thể hóa.

Sự lãnh đạo của Đảng biểu hiện trước hết ở việc cung cấp cho nhân dân một cương lĩnh hoạt động khoa học, vạch rõ lộ trình và phương pháp xây dựng xã hội mới. Sức mạnh này dựa trên khối liên minh bền chặt giữa giai cấp công nhân và nông dân – một liên minh không tự thân hình thành mà phải được củng cố bằng chính sách đúng đắn của Đảng. Bằng công tác giáo dục, Đảng không ngừng nâng cao giác ngộ chính trị, đoàn kết quần chúng và đập tan mọi âm mưu phục hồi trật tự cũ. Vận mệnh của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc vào tính kiên định và sáng tạo của Đảng trong việc vận dụng lý luận vào thực tiễn, biến những dự năng khách quan thành thành tựu hiện hữu của đời sống nhân dân.

3. Kết luận

Thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã minh chứng một cách thuyết phục rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là lực lượng cầm quyền, mà là nhân tố động lực sống còn, quyết định mọi thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự vĩ đại và sức mạnh của Đảng nằm ở năng lực chuyển hóa những khả năng khách quan thành hiện thực sinh động. Năng lực ấy được bồi đắp từ sự kết tinh giữa bản lĩnh trí tuệ thông qua việc nắm vững, vận dụng sáng tạo nền tảng lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với khả năng khơi dậy, phát huy triệt để truyền thống yêu nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, Đảng luôn thể hiện tầm nhìn chiến lược nhạy bén khi chớp thời cơ, ứng phó linh hoạt trước những biến động phức tạp của điều kiện kinh tế - quốc tế. Chính sự thống nhất biện chứng giữa các yếu tố chủ quan và khách quan này đã giúp Đảng thực hiện trọn vẹn vai trò là “người tổ chức chế độ xã hội mới”. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đan xen giữa những thời cơ và thách thức hiện nay, việc nhận thức sâu sắc và bảo vệ vững chắc vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng không chỉ là đòn bẩy tất yếu để hiện thực hóa khát vọng “dân giàu, nước mạnh”, mà còn là vũ khí lý luận sắc bén để đập tan mọi âm mưu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Giữ vững ngọn cờ lãnh đạo của Đảng chính là giữ vững động lực phát triển bền vững, bảo đảm cho sự sống còn và trường tồn của chế độ xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam

5. Tài liệu trích dẫn

  1. Công-Stăng-Ti-Nốp. (1957). Duy vật lịch sử là một môn khoa học. Hà Nội: Sự Thật.
  2. Trần Văn Giàu. (1980). Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam: Giáo dục.
  3. Hochiminh.Vn. (2015). Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội*. Retrieved from https://hochiminh.vn/tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/noi-dung-tu-tuong-dao-duc/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-doc-lap-dan-toc-gan-lien-voi-chu-nghia-xa-hoi-23
  4. Nguyễn Linh Khiếu. (2015). Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tinh thần Đại hội XI của Đảng. Retrieved from https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/gioi-thieu-van-kien-dang/qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam-theo-tinh-than-dai-hoi-xi-cua-dang-pgs-ts-nguyen-linh-khieu-tap-862#:~:text=Nh%E1%BB%AFng%20m%C3%A2u%20thu%E1%BA%ABn%20c%C6%A1%20b%E1%BA%A3n%20v%E1%BB%91n%20c%C3%B3,l%E1%BB%B1c%20l%C6%B0%E1%BB%A3ng%20s%E1%BA%A3n%20xu%E1%BA%A5t%20v%E1%BB%9Bi%20ch%E1%BA%BF%20%C4%91%E1%BB%99
  5. Mai Lan/Vov1. (2014). Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Toàn dân phải tự bảo vệ độc lập, tự do”. Retrieved from https://vov.vn/chinh-tri/thuong-tuong-nguyen-chi-vinh-toan-dan-phai-tu-bao-ve-doc-lap-tu-do-373417.vov
  6. Hồ Chí Minh. (2011). toàn tập, tập 2. Hà Nội: Chính trị quốc gia - Sự thật.
  7. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay.
  8. Joshep Stalin. (1938). chủ nghĩa duy vật viện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử: Chính trị quốc gia Sự thật.
  9. ĐOÀN TRIỆU LONG - NGUYỄN THỊ THU Trang. (2024). Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vận dụng vào quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay. Tạp chí Cộng sản.
  10. Nguyễn Phú Trọng. (2023). Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tư tưởng, ngoại giao Hồ Chí Minh, quyết tâm xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc cây tre Việt Nam: Chính trị Quốc gia Sự thật.
  11. Hội đồng lý luận trung Ương. (2026). Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn mới: Chính trị Quốc gia sự thật.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
    • Mặc định
    trống đồng