ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC - SỨC MẠNH TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX. Trong chiến dịch lịch sử ấy, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy ở mức cao nhất, góp phần làm nên thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một trong những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược, góp phần quan trọng đối với với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Đây trước hết là thắng lợi của đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là chiến thắng của sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân tộc và đặc biệt là thắng lợi của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong chiến dịch lịch sử ấy, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy ở mức cao nhất, tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, huy động sức người, sức của và trí tuệ của mọi giai cấp, tầng lớp, mọi vùng miền, góp phần làm nên thắng lợi “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Chiến dịch Điện Biên Phủ khẳng định một chân lý bền vững: đoàn kết là nguồn sức mạnh vô địch, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ngày nay, trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng và phải đối mặt với nhiều thách thức mới, việc tiếp tục khơi dậy và phát huy bài học đại đoàn kết toàn dân tộc từ Điện Biên Phủ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
1. Sự hòa nhịp của cả nước với Chiến dịch Điện Biên Phủ - biểu tượng tiêu biểu của phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết tinh rực rỡ của ý chí độc lập, tự do và sức mạnh tinh thần vô địch của dân tộc Việt Nam, phản ánh sâu sắc bản chất của chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng: toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính.
Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch dài ngày, là nơi tập trung cao nhất nỗ lực quân sự, chính trị, hậu cần của cả hai phía trong giai đoạn đó. Chính vì vậy, đó là cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ với nhiều mất mát, hy sinh. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự đoàn kết trở thành sức mạnh tinh thần vô địch của dân tộc được khơi dậy, hun đúc và chuyển hóa thành sức mạnh vật chất to lớn để chiến thắng kẻ thù. Chính sách giảm tô, cải cách ruộng đất, đem lại ruộng đất cho nông dân, trong đó có nhiều gia đình cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận, đã củng cố niềm tin chính trị, khơi dậy lòng biết ơn và sự gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng, giữa hậu phương với tiền tuyến, giữa lý tưởng giải phóng dân tộc với quyền lợi thiết thực của quần chúng nhân dân.
Theo báo cáo của Hội đồng cung cấp mặt trận ngày 10-7-1954, tổng kết công tác hậu cần phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ thì trong thời gian chiến dịch, ta đã huy động được 261.451 dân công, 20.991 xe đạp thồ, 914 ngựa thồ, 3130 tấn/thuyền, 736 xe súc vật kéo. Trong đó, khu Tây Bắc - hậu cần tại chỗ cung cấp 31.818 dân công; Việt Bắc - căn cứ địa kháng chiến của cả nước cung cấp 36.519 dân công, 8.065 xe đạp thồ; Liên khu 3 huy động được 6.400 dân công, 1.712 xe đạp thồ; Nghệ An cung cấp 1.400 xe đạp thồ; Thanh Hóa cung cấp 186.714 dân công và 9.814 xe đạp thồ. Tính chung số ngày công phục vụ chiến dịch lên đến 12 triệu, trong đó tuyến hậu cần chiến dịch sử dụng 3 triệu ngày công[1]. Đặc biệt, trong toàn chiến dịch, xe thồ của dân công chiếm 1/3 trọng tải cần vận chuyển. Xe đạp thồ được huy động tới mức tối đa, số lượng lên đến 20.000 xe. Mỗi xe thồ lúc đầu chỉ chở được 100kg, sau đó nâng lên 200 rồi 300kg. Cao điểm có xe đạp thồ chở tới 352 kg. Năng suất xe đạp thồ cao gấp hơn 10 lần dân công gánh bộ do vậy lượng gạo ăn đường cho người chuyên chở cũng giảm được khá nhiều[2].

Đáng chú ý, để “chia lửa” với Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhân dân các địa phương đã tham gia phục vụ tích cực cho các lực lượng vũ trang chủ động mở các chiến dịch tiến công địch trên nhiều hướng. Nhờ đó, ta không chỉ tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch mà còn buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, làm cho mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán của địch ngày càng sâu sắc. Những cuộc tiến công vào các tuyến vận tải, đặc biệt là tuyến hàng không, đã gây cho địch những thiệt hại nặng nề và hạn chế rất đáng kể khả năng tiếp tế cho Điện Biên Phủ. Trên phạm vi cả nước, nhân dân các địa phương từ Nam đến Bắc đã nhất tề vùng lên diệt ác, phá tề, giành quyền làm chủ. Những cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế, đấu tranh trên mặt trận văn hóa liên tiếp nổ ra, làm cho hậu phương của địch từ nông thôn đến các đô thị luôn trong tình trạng bị náo động, không lúc nào bình yên.
Điển hình, tại Liên khu 3, ta tăng cường tiến công tập kích Đường 5 - tuyến đường vận tải chiến lược của địch từ Hà Nội về Hải Phòng. Đồng thời, liên tiếp tập kích các sân bay Gia Lâm và Cát Bi để phá tuyến vận tải đường không chi viện cho Điện Biên Phủ của địch… Ở chiến trường Nam Bộ, theo chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương Cục chỉ đạo dốc toàn lực đẩy nhanh nhịp độ tiến công để phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ. Các đơn vị chủ lực của các khu và các tỉnh kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công vào vùng địch hậu các tỉnh: Thủ Biên, Long Châu Sa, Mỹ Tho, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu,…
Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong Chiến dịch Điện Biên phủ được biểu hiện rõ nét trong hoạt động phối hợp chặt chẽ của lực lượng công an, đặc biệt là việc thành lập Ban Công an Tiền phương nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lực lượng tham gia chiến dịch, bảo vệ dân công, bảo vệ giao thông vận tải, kho tàng, bảo vệ các cuộc hành quân, trú quân của bộ đội chủ lực. Các đơn vị đã tổ chức các ban bảo vệ dân công và phát động phong trào “Phòng gian bảo mật”; giữ bí mật, phổ biến cách thức phòng chống do thám, điều tra của địch; quy định việc đi lại, tiếp xúc giao dịch… Nhờ vậy, lực lượng công an đã làm tốt công tác bảo đảm an toàn bí mật, góp phần giữ vững thế chủ động chiến lược: “Tính từ tháng 01 đến tháng 5-1954, Công an Liên khu 3, 4, khu Tây Bắc, Việt Bắc đã bắt hàng trăm tên tình báo gián điệp chuyên theo dõi thu thập tin tức về các cuộc hành quân, đóng quân của bộ đội ta từ các hướng lên Điện Biên Phủ”[3].
Một phương diện rất quan trọng, phản ánh chiều sâu chính trị của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, chính là công tác binh vận. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta không những làm phá sản kế hoạch dự định nâng số quân lên 29 vạn tên vào năm 1953-1954 của thực dân Pháp, mà chỉ tính riêng trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, đã vận động được hơn 32.000 ngụy binh trở về với kháng chiến[4], trong đó chị em phụ nữ đã vận động được 17.000 người[5], làm cho khả năng tăng quân tiếp viện cho Điện Biên Phủ của thực dân Pháp bị hạn chế nghiêm trọng. Ngược lại, để tăng cường lực lượng chiến đấu cho mặt trận, nhân dân các địa phương đã ra sức động viên thanh niên lên đường nhập ngũ giết giặc lập công[6].
Từ thực tiễn đó có thể khẳng định: Chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ là thắng lợi quân sự đơn thuần, mà trước hết là thắng lợi của đường lối chính trị đúng đắn, của nghệ thuật phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện, và đặc biệt là thắng lợi của tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng, lãnh đạo và tổ chức thực hiện.
2. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ - giá trị lịch sử và sức sống trường tồn
Trên thực tế, sức mạnh đại đoàn kết, sự đồng tâm hiệp lực của cả dân tộc là nhân tố quan trọng bậc nhất làm nên thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá: “Nhờ sự đoàn kết chặt chẽ và anh dũng hy sinh của toàn quân và toàn dân ta, chúng ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ”[7]. Lịch sử đã chứng minh: nếu không có sự đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện lúc bấy giờ, chúng ta không thể huy động được sức người, sức của vĩ đại đến như vậy. Sức mạnh đó bắt nguồn từ đường lối chiến lược đúng đắn của Đảng; sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương bằng những hình thức, biện pháp linh hoạt, sáng tạo; và đặc biệt là sự tham gia đông đảo của mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để đánh thắng”. Đây là biểu hiện của bản lĩnh chính trị, sức mạnh tinh thần và năng lực tổ chức xã hội của một dân tộc tuy còn nghèo nàn, lạc hậu nhưng có chính nghĩa, có niềm tin và có lý tưởng cách mạng rõ ràng.
Truyền thống đoàn kết dân tộc và tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được phát huy mạnh mẽ, thể hiện sinh động trong tinh thần cả nước đồng lòng, toàn dân đánh giặc. Đồng thời, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam còn được thể hiện ở tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn thể dân tộc, đặc biệt là các chiến sĩ xung kích ngoài mặt trận, trực tiếp sống mái với quân thù. Có được điều đó chính là bởi cuộc chiến tranh của nhân dân ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa, chống xâm lược, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ đã đem lại những quyền lợi căn bản về vật chất và tinh thần cho nhân dân, từ đó củng cố niềm tin và tạo động lực mạnh mẽ để phát huy sức mạnh toàn dân tộc vào trận quyết chiến chiến lược.
72 năm đã trôi qua, bài học về phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã được Đảng kế thừa, vận dụng sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ biên giới quốc gia, lãnh thổ cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã vượt qua thời kỳ khó khăn khi xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Một phép so sánh cho thấy, trước đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra gay gắt cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Nhưng, chỉ 10 năm đầu đổi mới (1986-1995) trong điều kiện bị bao vây, cấm vận, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, vượt qua khó khăn, cơ bản hoàn thành những nhiệm vụ của chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong 10 năm tiếp theo (1996-2005), thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên. Tích lũy nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể, đến năm 2000 đã đạt 27% GDP. Trong 10 năm (2006-2015), Việt Nam đã chính thức trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp (2010), chính trị - xã hội ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 30 năm đầu đổi mới trung bình gần 7%/năm, trong đó có 7 năm trên 8% và 2 năm trên 9%[8].
Trong 10 năm gần đây (2016-2025), nền kinh tế đất nước đã có sự chuyển biến tích cực, toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát luôn được kiểm soát ở mức thấp; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; nợ công giảm, nợ xấu được kiểm soát. Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi nhiều biến động không thuận từ môi trường quốc tế, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2025 đạt khoảng 6,2%/năm. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi, đạt tương ứng trên 510 tỉ USD và trên 5.000 USD/người. Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năng suất lao động tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011-2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016-2020[9].
Nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế duy trì tốc độ phát triển tương đối nhanh, trở thành nước đang phát triển thu nhập trung bình. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế[10].
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, mặt trái của toàn cầu hóa, sự phát triển của không gian mạng và sự gia tăng các hình thức “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng phải được nhận thức như một nhiệm vụ mang tính nguyên tắc. Các thế lực thù địch liên tục xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thắng lợi của cách mạng Việt Nam, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, tách rời nhân dân khỏi Đảng và Nhà nước; đồng thời lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm kích động chia rẽ, gây mất ổn định và phá hoại nền tảng tinh thần của chế độ.
Trong bối cảnh đó, Chiến thắng Điện Biên Phủ tiếp tục có ý nghĩa thời sự sâu sắc, bởi chiến thắng này chứng minh chân lý: khi Đảng có đường lối đúng, khi nhân dân một lòng tin theo Đảng, khi sức mạnh toàn dân tộc được quy tụ trong mục tiêu chung, thì Việt Nam có thể vượt qua mọi thế lực xâm lược mạnh hơn gấp bội. Đây là cơ sở khoa học vững chắc để phản bác quan điểm sai trái cho rằng thắng lợi Điện Biên Phủ chỉ là “ngẫu nhiên” hoặc chỉ là kết quả của “hỗ trợ quốc tế”. Thực tiễn Chiến dịch Điện Biên Phủ cho thấy, dù sự giúp đỡ quốc tế có ý nghĩa nhất định, song nhân tố quyết định vẫn là sức mạnh nội lực dân tộc, tinh thần tự lực tự cường và nghệ thuật tổ chức chiến tranh nhân dân, mà hạt nhân lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam - đó là sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, rồi Đại thắng mùa Xuân 1975 cho tới hiện nay, tất cả những mốc son chói lọi đó đều là kết tinh của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc từ lòng yêu nước nồng nàn đến ý chí “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Chính sức mạnh nhân dân, sự đồng tâm hiệp lực của hàng triệu con người Việt Nam yêu nước, đã làm nên kỳ tích đánh bại những đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới trong thế kỷ XX. Chúng ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay phần nhiều do sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc bồi đắp nên”[11].
Giá trị trường tồn của bài học đó tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định quan điểm “Lấy nhân dân làm gốc”, coi đây là nền tảng để phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc một cách sâu rộng, toàn diện, bao trùm mọi tầng lớp xã hội trên nền tảng khối liên minh công - nông - trí thức do Đảng lãnh đạo; đồng thời giải quyết hài hòa lợi ích, bảo đảm công bằng, bình đẳng, để mọi người dân đều có cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh và kêu gọi: “Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất ý chí và hành động; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các quyết sách chiến lược; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”[12].
Trong kỷ nguyên mới, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục phát huy ý chí tự lực tự cường, kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và đến năm 2045 như đã đề ra trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: “Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc”[13].
[1] Bộ Quốc phòng, Tổng cục hậu cần, Lịch sử hậu cần quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, tr.290.
[2] Không phải viện trợ Trung Quốc đã đánh bại tướng Navarre, mà chính là những chiếc xe đạp Peugeot thồ 200, 300kg hàng và đẩy bằng sức người - những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm ny-lông. Giuyn Roa, Trận Điện Biên Phủ, Nxb Giulia, Pari, 1964, Tài liệu dịch Thư viện quân đội, 1984, tr. 357-358.
[3] Bộ Quốc phòng, Tỉnh ủy Điện Biên, Chiến thắng Điện Biên Phủ, sức mạnh thời đại Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr.329.
[4] Báo Nhân dân, số ra ngày 27-6-1954.
[5] Nguyễn Thị Thập (Chủ biên), Lịch sử phong trào phụ nữ Việt Nam, Nxb Phụ nữ, Hà Nội, 1980, tập I, tr.162.
[6] Tính đến trước giờ nổ súng, quân ta có 51.445 người.
[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.410.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.16-17.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.18.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.20.
[11] Tổng Bí thư Tô Lâm, “Sức mạnh của đoàn kết”. Nguồn: https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-suc-manh-cua-doan-ket.html, truy cập 7-5-2026.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.390.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.84.


