Việt Nam kỷ nguyên mới

Chính sách thương mại vùng biên giới đất liền của Việt Nam

Linh Chi, Mai Hoa 13/06/2026 18:38

Thương mại vùng biên giới đất liền giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh tại các khu vực biên giới đất liền của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

604-202606071427251.png
Hoạt động xuất nhập khẩu qua cửa khẩu quốc tế đường bộ số II Kim Thành - Một trong những kênh thương mại vùng biên giới Việt Nam – Trung Quốc (Ảnh: Báo Công Thương)

Vùng biên giới đất liền của Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và Campuchia, có hệ thống cửa khẩu và chợ biên giới trải dài qua nhiều tỉnh, là khu vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh và thúc đẩy hợp tác quốc tế.

Những năm qua, hoạt động thương mại vùng biên giới đã đóng góp không nhỏ trong tăng trưởng xuất nhập khẩu, phát triển sản xuất hàng hóa tại chỗ, nâng cao thu nhập và đời sống của cư dân vùng biên giới đất liền. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và biến động toàn cầu, chính sách phát triển thương mại vùng biên giới của Việt Nam đang hướng đến kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế, bảo đảm quốc phòng - an ninh và phát triển bền vững.

1. Chính sách chung của Việt Nam đối với hoạt động thương mại vùng biên giới

1.1. Quản lý hàng hóa trong thương mại vùng biên giới

Trao đổi hàng hóa qua biên giới bao gồm cả hoạt động thương mại chính thức và thương mại tiểu ngạch. Thương mại qua biên giới bao gồm việc vận chuyển hàng hóa qua các cửa khẩu quốc tế và cả các hoạt động tại các chợ biên giới, điểm giao dịch và cửa khẩu phụ.

1.1.1. Đối với hoạt động thương mại chính thức

Các hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới được cơ quan hải quan kiểm tra để đảm bảo tuân thủ các quy định về thuế, chất lượng và an ninh. Cơ quan hải quan có quyền kiểm tra hàng hóa, kiểm soát các mặt hàng không được phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Một số loại hàng hóa yêu cầu giấy phép xuất nhập khẩu, tùy thuộc vào từng loại hàng hóa và thị trường giao dịch.

604-202606071427252.jpg
Hải quan cửa khẩu quốc tế Lao Bảo tạo điều kiện thuận lợi nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát tốt hoạt động thương mại vùng biên giới Việt Nam - Lào (Ảnh: Thuế & Hải quan - Tạp chí Kinh tế Tài chính Online)

1.1.2. Đối với hoạt động thương mại tiểu ngạch

Các mặt hàng tiểu ngạch phải có nguồn gốc và khi qua biên giới phải được khai báo tại các trạm kiểm soát hải quan. Các thủ tục này thường đơn giản hơn so với thương mại chính thức. Các mặt hàng xuất nhập khẩu qua biên giới phải tuân thủ quy định về thuế, bao gồm thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa tiểu ngạch, mức thuế thường thấp hơn so với hàng hóa xuất nhập khẩu chính thức. Thương nhân thực hiện hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa qua cửa khẩu chính thức. Trường hợp hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua biên giới thực hiện qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới, Ủy ban nhân dân tỉnh có đường biên giới sẽ quyết định, công bố Danh mục các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới được phép thực hiện hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa. Cư dân vùng biên giới mua bán, trao đổi hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới do Bộ Công Thương ban hành và được hưởng định mức miễn thuế theo quy định. Cơ quan hải quan và các lực lượng chức năng khác phối hợp để kiểm tra, xử lý các vi phạm liên quan đến buôn lậu và nhập khẩu trái phép các mặt hàng cấm và hạn chế.

1.2. Hỗ trợ thương nhân, cư dân biên giới, phát triển hạ tầng thương mại

Chính phủ đã và đang thực hiện nhiều biện pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính cho các hoạt động thương mại vùng biên giới, đặc biệt là đối với cư dân vùng biên giới và thương nhân tiểu ngạch. Các thủ tục thông quan hàng hóa qua cửa khẩu biên giới được điều chỉnh theo hướng giảm bớt các giấy tờ hành chính và thủ tục kiểm tra, giúp thương nhân tiết kiệm thời gian và chi phí giao dịch.

1.3. Quản lý ngoại hối, quản lý cửa khẩu

Hoạt động thương mại vùng biên giới được thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, sử dụng đồng tiền Việt Nam hoặc đồng tiền của nước có chung biên giới. Ba phương thức thanh toán được áp dụng là: thanh toán qua ngân hàng; thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu (phần chênh lệch thanh toán qua ngân hàng); và thanh toán bằng tiền mặt.

Các hoạt động thương mại và di chuyển qua biên giới được kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại và các hành vi vi phạm pháp luật.

2. Chính sách đối với các quốc gia có chung đường biên giới đất liền với Việt Nam

2.1. Với Trung Quốc

Ưu tiên phát triển các cặp cửa khẩu và khu kinh tế cửa khẩu chuyên biệt

Việt Nam và Trung Quốc đã phối hợp xây dựng các cửa khẩu thông minh như: Tân Thanh - Pò Chài; Móng Cái - Đông Hưng, với cơ chế thông quan linh hoạt và hạ tầng hiện đại. Các khu kinh tế cửa khẩu như Móng Cái và Lào Cai được ưu tiên đầu tư với các chính sách đặc thù như miễn giảm thuế đất, hỗ trợ vốn vay và thu hút đầu tư tư nhân để phát triển hậu cần và dịch vụ thương mại.

Hợp tác thương mại điện tử và kinh tế số xuyên biên giới

Việt Nam đã thiết lập các chính sách đặc thù để thúc đẩy hợp tác với Trung Quốc trong lĩnh vực này, đặc biệt tại các tỉnh biên giới như Quảng Ninh và Lạng Sơn. Các hội chợ thương mại điện tử biên giới được tổ chức thường xuyên, như Hội chợ Thương mại biên giới Việt - Trung tại Lào Cai, để kết nối doanh nghiệp hai bên và quảng bá sản phẩm trên các nền tảng trực tuyến. Việt Nam cũng khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng công nghệ số để đơn giản hóa quy trình xuất nhập khẩu, như áp dụng chuỗi khối (blockchain) trong chuỗi cung ứng và hệ thống thanh toán điện tử.

Hỗ trợ xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc

Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết các Nghị định thư về kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn bao bì, nhằm mở cửa chính ngạch cho nhiều mặt hàng nông sản như: thanh long, xoài, mít, chanh leo, sầu riêng, khoai lang, chuối, dưa hấu. Chính phủ Việt Nam hợp tác với các cơ quan chức năng của Trung Quốc để đảm bảo nhiều sản phẩm nông nghiệp được chứng nhận và kiểm tra theo các tiêu chuẩn SPS bắt buộc. Các nhà xuất khẩu Việt Nam được khuyến khích lấy chứng nhận Chương trình Hữu cơ Quốc gia Việt Nam (VNOP) cho các sản phẩm hữu cơ và tuân thủ các tiêu chuẩn chứng nhận xanh của Trung Quốc. Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức các chương trình đào tạo giúp nông dân làm quen với các yêu cầu mới của Trung Quốc và các thủ tục chứng nhận, tập trung vào việc giảm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và cải thiện khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm[0].

Hợp tác song phương giữa các địa phương biên giới

Việt Nam đã ký gần 40 văn bản hợp tác kinh tế với Trung Quốc, như: Hiệp định Thương mại biên giới (1991, sửa đổi 2016), Hiệp định Xây dựng cầu đường bộ qua sông Hồng tại Lào Cai - Vân Nam, cùng nhiều bản ghi nhớ với các tỉnh như Tứ Xuyên (2009), Quảng Tây (2019), Vân Nam (2022), Hải Nam và Sơn Đông (2024)[1]. Các văn bản này giúp thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại ổn định; khai thác thế mạnh địa phương; tạo thuận lợi thông quan hàng hóa; thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin giữa hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp và hỗ trợ mở cửa thị trường cho nông sản, trái cây Việt Nam.

Phối hợp song phương đặc biệt trong quản lý và giải quyết tranh chấp thương mại biên giới

Việt Nam và Trung Quốc thiết lập cơ chế họp luân phiên, thường niên cấp Bộ trưởng. Hai bên thành lập tổ công tác chung về kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm để thúc đẩy hợp tác và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong xuất khẩu nông thủy sản của Việt Nam sang Trung Quốc[2].

2.2. Với Lào

Ưu đãi về thuế và thủ tục thông quan

Hiệp định Thương mại biên giới Việt - Lào dành ưu đãi thuế suất thuế nhập khẩu 0% cho các loại hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam và Lào. Đồng thời, Việt Nam thí điểm áp dụng thủ tục một cửa - một điểm dừng tại một số cặp cửa khẩu với Lào như: Lao Bảo - Đen Savan, Cầu Treo - Nam Phao, nhằm giảm thời gian và chi phí thông quan.

Ưu tiên phát triển một số khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm giáp Lào

Ưu tiên phát triển các khu kinh tế như: Khu kinh tế cửa khẩu Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị); Khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo, cửa khẩu Cầu Treo, Nậm Cắn, Tây Trang… Trong đó, Chính phủ hỗ trợ vốn đầu tư cơ sở hạ tầng: đường giao thông nối cửa khẩu, kho hàng, trung tâm logistics, kiểm dịch, chợ biên giới…

Phối hợp song phương và xúc tiến thương mại biên giới

Hai nước thống nhất thành lập Ban Chỉ đạo thương mại biên giới Việt Nam - Lào, khuyến khích thành lập Hiệp hội Thương nhân hoạt động thương mại biên giới Việt Nam - Lào.

2.3. Với Campuchia

Ưu đãi thuế quan đặc biệt

Hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam xuất khẩu sang Campuchia và ngược lại có thể được miễn thuế nhập khẩu và các loại thuế theo luật và quy định của mỗi nước.

Phát triển chợ và hạ tầng thương mại biên giới

Việt Nam đầu tư cơ sở hạ tầng khu vực biên giới đất liền tiếp giáp với Campuchia; thúc đẩy các dịch vụ hỗ trợ thương mại biên giới về kho bãi, giao nhận, vận chuyển, chế biến, bảo quản hàng hóa, dịch vụ ngân hàng và tài chính; nâng cấp cửa khẩu, cải thiện khâu quản lý và chống buôn lậu, chống hàng giả để tạo môi trường kinh doanh công bằng, an toàn.

Hợp tác, kết nối vận tải đường bộ

Hoạt động vận tải liên vận giữa Việt Nam và Campuchia đi qua 11 cặp cửa khẩu. Hai bên đã cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng tại các cặp cửa khẩu và các tuyến đường kết nối tới cửa khẩu, nâng cấp các cặp cửa khẩu song phương lên cửa khẩu quốc tế. Qua đó, đáp ứng nhu cầu hoạt động vận tải liên vận của các doanh nghiệp vận tải, nhu cầu đi lại của người dân hai nước, khách du lịch quốc tế và vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu của hai nước[3].

Phối hợp quản lý cửa khẩu và kiểm tra chuyên ngành

Việt Nam và Campuchia thường xuyên trao đổi thông tin về chủ trương, chính sách của hai nước trong lĩnh vực hải quan, trao đổi về quy trình thủ tục hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng hóa của cư dân biên giới, phương tiện xuất nhập cảnh, hành lý xuất nhập cảnh, quá cảnh để phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ của mỗi bên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh tại khu vực cửa khẩu.

Hai nước cũng phối hợp chặt chẽ và kịp thời trong xác minh các vụ việc nghi ngờ vi phạm pháp luật hải quan; nghiên cứu cơ chế phối hợp quản lý rủi ro để áp dụng chung, giúp nhận diện hàng hóa và đối tượng nghi ngờ, từ đó tăng cường hiệu quả kiểm soát; tích cực phối hợp với cơ quan chức năng của mỗi bên cung cấp danh sách các đối tượng có khả năng mang vác, vận chuyển trái phép chất cấm qua cửa khẩu biên giới để có biện pháp quản lý, ngăn ngừa, ngăn chặn[4].

3. Kết luận

Để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh tại các khu vực biên giới đất liền trong thời kỳ hội nhập, Việt Nam tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm khai thác tối đa tiềm năng giao thương, kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế, bảo đảm an ninh quốc gia và phát triển bền vững. Trong đó, tăng cường phân cấp quản lý để đảm bảo đồng bộ; Áp dụng công nghệ hiện đại trong quản lý hàng hóa và phát triển chợ biên giới; Hoàn thiện chính sách quản lý ngoại hối và phòng ngừa trục lợi; Điều chỉnh quy định về hoạt động thanh toán của thương nhân và cư dân biên giới[5] ; Thúc đẩy xã hội hóa đầu tư tại cửa khẩu và chợ biên giới[6].

Cùng với đó, các giải pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại được tăng cường. Thống nhất cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý cửa khẩu trong thực hiện thủ tục, bảo đảm các hoạt động tại cửa khẩu được thực hiện thống nhất, đồng bộ, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Hoàn thiện cơ chế, nội dung, phương thức kết hợp và vận hành hiệu quả trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Thiết lập các cơ chế đối thoại thường xuyên với các quốc gia láng giềng để giải quyết các vấn đề liên quan đến biên giới, thương mại và an ninh./.


[1] Trịnh Minh Anh (2024), “Việt Nam-Trung Quốc: Phát huy tối đa cơ chế hợp tác kinh tế song phương”, Vietnam+ ngày 27/9, https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-trung-quoc-phat-huy-toi-da-co-che-hop-tac-kinh-te-song-phuong-post979608.vnp

[2] Trịnh Minh Anh (2024), “Việt Nam-Trung Quốc: Phát huy tối đa cơ chế hợp tác kinh tế song phương”, Vietnam+ ngày 27/9, https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-trung-quoc-phat-huy-toi-da-co-che-hop-tac-kinh-te-song-phuong-post979608.vnp

[3] Hạnh Châu (2025), “Hợp tác, kết nối vận tải đường bộ Việt Nam - Campuchia”, Báo An Giang online ngày 12/6, https://baoangiang.com.vn/hop-tac-ket-noi-van-tai-duong-bo-viet-nam-campuchia-a422411.html

[4] Danh Anh (2019), “Phối hợp quản lý cửa khẩu, kiểm soát xuất nhập cảnh qua biên giới”, Báo Biên phòng ngày 20/8, https://www.bienphong.com.vn/phoi-hop-quan-ly-cua-khau-kiem-soat-xuat-nhap-canh-qua-bien-gioi-post351434.html

[5] Minh Hiển (2024), “Hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại biên giới”, Báo điện tử Chính phủ ngày 04/01,

[6] Đào Ngọc Tuấn (2025), “Những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách trong việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng an ninh và đối ngoại ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam trong bối cảnh mới”, Tạp chí Công Thương ngày 24/01, https://tapchicongthuong.vn/nhung-dinh-huong--giai-phap-nham-hoan-thien-co-che--chinh-sach-trong-viec-ket-hop-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-voi-quoc-phong-an-ninh-va-doi-ngoai-o-cac-tinh-bien-gioi-phia-bac-vn-trong-boi-canh-moi-131935.htm

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    Chính sách thương mại vùng biên giới đất liền của Việt Nam
    • Mặc định
    trống đồng