Nguồn mạch lịch sử

CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Đăng Minh 27/07/2026 09:32

Trên cơ sở phân tích quá trình hình thành, phát triển và những thành tựu nổi bật của chính sách người có công ở Việt Nam cho thấy giá trị nhân văn, tính ưu việt, thể hiện trách nhiệm, sự quan tâm, tri ân sâu sắc của Đảng, Nhà nước, nhân dân đối với những người đã hy sinh xương máu bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế.

Mở đầu

Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tưởng nhớ, tri ân các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và những người có công với cách mạng đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Trải qua gần 80 năm hình thành và phát triển, chính sách ưu đãi người có công không chỉ thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc mà còn là minh chứng sinh động cho bản chất nhân văn, tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mặc dù đất nước còn muôn vàn khó khăn, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công. Hệ thống chính sách không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, khẳng định nhất quán quan điểm lấy con người làm trung tâm, bảo đảm những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc luôn được tôn vinh và chăm lo xứng đáng. Do gắn liền với tính chính nghĩa của cách mạng và bản chất của chế độ, chính sách người có công cũng là một trong những vấn đề thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc. Trên cơ sở phân tích quá trình hình thành, phát triển và những thành tựu nổi bật của chính sách người có công, qua đó thấy được giá trị nhân văn, tính ưu việt của chính sách, phản bác các quan điểm sai trái của thế lực thù địch.

1. Chính sách người có công ở Việt Nam - truyền thống tốt đẹp và nhân văn

1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán của Đảng về người có công

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng. Người khẳng định: “Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân, gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải yêu thương và giúp đỡ họ”[1]. Quan điểm đó thể hiện sâu sắc truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, đồng thời phản ánh bản chất nhân văn của chế độ mới ngay từ những ngày đầu thành lập.

Mặc dù đất nước còn muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt quan tâm đến công tác thương binh, liệt sĩ. Ngày 28/5/1946, Người quyết định thành lập Hội giúp binh sĩ bị thương và trực tiếp làm Hội trưởng danh dự. Ngày 16/02/1947, Người ký Sắc lệnh số 20/SL quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ - văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho hệ thống chính sách người có công ở nước ta[2].

Theo chỉ thị của Người, ngày 27/7/1947 được chọn là Ngày Thương binh toàn quốc; đến năm 1955 được đổi thành Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Từ đó đến nay, ngày 27/7 đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của đạo lý dân tộc và trách nhiệm chính trị của Đảng, Nhà nước đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì Tổ quốc.

Không chỉ chăm lo đời sống vật chất, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến việc động viên, phát huy vai trò của thương binh, bệnh binh trong xây dựng đất nước. Người căn dặn: Các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên người công dân kiểu mẫu ở hậu phương, cũng như các đồng chí đã từng là chiến sỹ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận”[3], để mỗi thương binh “tàn nhưng không phế”. Trong Di chúc, Người tiếp tục nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội trong việc chăm lo đời sống, đào tạo nghề, tạo việc làm cho thương binh, giúp đỡ thân nhân liệt sĩ, đồng thời xây dựng các công trình tưởng niệm nhằm giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ mai sau.

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định chăm lo người có công với cách mạng là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công… bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú”. [4] Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định mục tiêu đến năm 2030: “Bảo đảm mức sống của gia đình người có công từ mức trung bình khá trở lên so với mức sống của cộng đồng dân cư nơi cư trú”.[5]

Những quan điểm nhất quán đó cho thấy, chăm lo người có công không chỉ là một chính sách an sinh xã hội mà còn là sự cụ thể hóa tư tưởng “lấy con người làm trung tâm”, kết tinh truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc và bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa.

1.2. Con người giữ vị trí trung tâm trong phát triển kinh tế - xã hội

Trong đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, con người luôn giữ vị trí trung tâm, là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Quan điểm đó được thể hiện nhất quán trong chính sách đối với người có công với cách mạng - những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Từ trong khói lửa chiến tranh đến thời kỳ hòa bình, đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công, coi đây không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là đạo lý và lương tri của dân tộc.

Ngay trong điều kiện chiến tranh vô cùng gian khổ, khi đất nước còn nghèo nàn, nguồn lực hết sức hạn chế, Nhà nước vẫn ban hành các chế độ hưu bổng thương tật, tiền tuất tử sĩ, thành lập các cơ sở điều dưỡng, chăm sóc thương binh và hỗ trợ gia đình liệt sĩ. Sau khi đất nước thống nhất, cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách người có công tiếp tục được mở rộng, hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người có công và thân nhân. Điều đó thể hiện sự nhất quán của Đảng và Nhà nước trong việc không để những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc và gia đình họ bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển đất nước.

Thực tiễn hiện nay cho thấy sự quan tâm đó được thể hiện bằng những chính sách và nguồn lực cụ thể. Theo Cục Người có công (Bộ Nội vụ), cả nước hiện có trên 9,2 triệu người có công với cách mạng, trong đó có khoảng 1,2 triệu thương binh, bệnh binh và gần 1 triệu liệt sĩ. Hiện có trên 1,2 triệu người có công và hơn 280.000 thân nhân người có công đang hưởng trợ cấp hằng tháng. Mỗi năm, ngân sách nhà nước dành hơn 50.000 tỷ đồng để thực hiện các chính sách ưu đãi, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội và hỗ trợ người có công. Từ năm 2020 đến nay, mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công liên tục được điều chỉnh tăng; hiện đạt 2.789.000 đồng/tháng và dự kiến từ tháng 7/2026 tiếp tục tăng khoảng 10%, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các đối tượng chính sách[6].

Không chỉ bảo đảm trợ cấp thường xuyên, người có công và thân nhân còn được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về bảo hiểm y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe, hỗ trợ nhà ở, giáo dục, đào tạo nghề, tạo việc làm và các chế độ ưu tiên khác. Đến nay, 98,6% hộ gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình tại địa phương, phản ánh hiệu quả thực chất của hệ thống chính sách ưu đãi cũng như sự quan tâm của toàn xã hội đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho đất nước. Đồng thời, Bộ Nội vụ đang triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm” nhằm đẩy nhanh việc tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, tiếp tục thực hiện trách nhiệm tri ân đối với những người đã ngã xuống vì Tổ quốc. Trong thời gian tới, Bộ Nội vụ tiếp tục đề xuất sửa đổi Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng theo hướng hoàn thiện và nâng cao hơn nữa các chính sách ưu đãi, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và tinh thần các nghị quyết của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Những kết quả đó cho thấy, chính sách người có công ở Việt Nam không phải là những cam kết mang tính hình thức mà được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nguồn lực ngân sách ngày càng tăng và sự quan tâm thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Từ chiến tranh đến hòa bình, từ khi đất nước còn nhiều khó khăn đến giai đoạn phát triển và hội nhập, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán trong quan điểm chăm lo người có công, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển và không để ai bị bỏ lại phía sau.

1.3. Kết hợp chính sách của Nhà nước với sự đồng lòng và nguồn lực xã hội trong chăm lo người có công

Một trong những đặc trưng nổi bật của chính sách người có công ở Việt Nam là sự kết hợp chặt chẽ giữa trách nhiệm của Nhà nước với sự tham gia tích cực của toàn xã hội. Nếu Nhà nước giữ vai trò định hướng, ban hành chính sách, bảo đảm nguồn lực và tổ chức thực hiện thì Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp và đông đảo nhân dân đã cùng chung tay lan tỏa truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong chăm lo người có công với cách mạng.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Máu đào của các liệt sỹ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của liệt sỹ đã làm cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sỹ….”[7]. Thấm nhuần tư tưởng đó, trong suốt gần 80 năm qua, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành một phong trào chính trị - xã hội sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Nhiều hoạt động thiết thực được duy trì thường xuyên như xây dựng và phát triển Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc thương binh nặng, thăm hỏi gia đình liệt sĩ, tu bổ nghĩa trang liệt sĩ, xây dựng và sửa chữa nhà tình nghĩa, hỗ trợ sinh kế, khám chữa bệnh và tạo việc làm cho người có công và thân nhân.

Những kết quả đạt được đã phản ánh rõ sự đồng hành của Nhà nước và toàn xã hội trong thực hiện chính sách người có công. Mức chuẩn trợ cấp ưu đãi năm 2025 tăng hơn 70% so với năm 2021, góp phần cải thiện đáng kể đời sống của các đối tượng chính sách. Đặc biệt, trong gần hai năm qua, cả nước đã hỗ trợ xây mới và sửa chữa trên 41.800 căn nhà cho người có công với tổng kinh phí khoảng 1.970 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước cùng nguồn vận động, đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân.[8] Những con số đó cho thấy chính sách người có công không chỉ được bảo đảm bằng nguồn lực của Nhà nước mà còn được tiếp sức bởi truyền thống nhân nghĩa và tinh thần trách nhiệm của toàn xã hội.

Sự kết hợp hài hòa giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, giữa trách nhiệm của Nhà nước với nghĩa tình của cộng đồng đã tạo nên sức mạnh bền vững trong công tác tri ân người có công. Đây không chỉ là biểu hiện sinh động của truyền thống nhân văn tốt đẹp của dân tộc Việt Nam mà còn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để chăm lo những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc.

1.4. Không ngừng hoàn thiện chính sách về thương binh, liệt sĩ, người có công

Một trong những đặc điểm nổi bật của chính sách người có công ở Việt Nam là luôn được rà soát, bổ sung và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Điều đó thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước: phát triển không chỉ hướng tới tăng trưởng kinh tế mà còn phải bảo đảm công bằng xã hội, chăm lo tốt hơn đời sống của những người đã hy sinh, cống hiến cho Tổ quốc.

Trong suốt tiến trình đổi mới, hệ thống pháp luật về người có công không ngừng được hoàn thiện theo hướng ngày càng đồng bộ, toàn diện và nhân văn. Bước ngoặt quan trọng là Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến và người có công giúp đỡ cách mạng được ban hành năm 1994, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, hệ thống chính sách tiếp tục được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1998, 2000; được thay thế bằng Pháp lệnh số 26/2005/PL-UBTVQH11, sửa đổi theo Pháp lệnh số 04/2012/PL-UBTVQH13 và hiện nay là Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14. Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định hướng dẫn thi hành, tiêu biểu là Nghị định số 75/2021/NĐ-CP, Nghị định số 55/2023/NĐ-CP và Nghị định số 77/2024/NĐ-CP,... kịp thời điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp ưu đãi, mở rộng và bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người có công và thân nhân.

Song song với việc hoàn thiện thể chế, Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực người có công, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, số hóa hồ sơ và liên thông dữ liệu giữa các cơ quan, địa phương. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giải quyết thủ tục hành chính và chi trả chế độ không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tăng cường tính công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho người dân trong tiếp cận và thụ hưởng chính sách.

Đặc biệt, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tiếp tục được triển khai với quyết tâm và nguồn lực lớn chưa từng có. Bộ Nội vụ đang thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm” nhằm đẩy nhanh tiến độ tìm kiếm, quy tập khoảng 7.000 hài cốt liệt sĩ, giám định ADN khoảng 18.000 mẫu hài cốt và thu thập gần 300.000 mẫu sinh phẩm của thân nhân liệt sĩ để xây dựng ngân hàng gene phục vụ đối sánh, xác định danh tính. Đây là hoạt động có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện trách nhiệm và sự tri ân của Đảng, Nhà nước đối với các anh hùng liệt sĩ và thân nhân[9].

Việc không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ trong giám định ADN và triển khai các chương trình quy mô lớn như "Chiến dịch 500 ngày đêm" cho thấy chính sách người có công ở Việt Nam luôn được đổi mới trên cơ sở lấy nhân dân làm trung tâm, lấy sự hài lòng và quyền lợi chính đáng của người có công làm mục tiêu hướng tới.

2. Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về chính sách người có công

2.1. Thực tiễn chính sách ưu đãi người có công bác bỏ luận điệu cho rằng Đảng và Nhà nước "bỏ rơi" người có công

Một trong những luận điệu xuyên tạc được các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị thường xuyên sử dụng là cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam “không quan tâm”, “lãng quên” hoặc “bỏ rơi” thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Chúng lợi dụng một số hạn chế, thiếu sót hoặc những vụ việc cá biệt trong quá trình thực hiện chính sách để quy kết thành bản chất của chế độ, từ đó phủ nhận những nỗ lực và thành quả của Đảng, Nhà nước trong gần 80 năm chăm lo người có công.

Tuy nhiên, thực tiễn đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu đó. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, dù trong điều kiện chiến tranh hay hòa bình, dù đất nước còn nhiều khó khăn hay đã đạt được những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn xác định chăm lo người có công là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, là trách nhiệm và đạo lý của cả hệ thống chính trị. Hằng năm, ngân sách nhà nước dành trên 30.000 tỷ đồng để chi trả các chế độ trợ cấp, phụ cấp, điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ nhà ở, giáo dục - đào tạo và các chính sách ưu tiên khác đối với người có công và thân nhân[10] Công tác giải quyết hồ sơ xác nhận người có công được đẩy mạnh theo hướng công khai, minh bạch và đúng quy định: “hồ sơ tồn đọng kéo dài nhiều năm đã được giải quyết căn bản, trong đó hơn 2.400 liệt sĩ và trên 2.700 thương binh góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng của người có công và hạn chế phát sinh khiếu kiện phức tạp[11]”,…

Trong 6 tháng đầu năm 2026, 34/34 tỉnh, thành phố đã tổ chức tặng quà cho gần 3,1 triệu lượt đối tượng người có công với tổng kinh phí gần 2,61 nghìn tỷ đồng[12]. Những kết quả đó phản ánh rõ hiệu quả thực chất của hệ thống chính sách ưu đãi cũng như sự quan tâm thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho Tổ quốc.

Tổng Bí thư Tô Lâm tặng quà cho người có công, nhân chứng lịch sử tiêu biểu. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Tổng Bí thư Tô Lâm tặng quà cho người có công, nhân chứng lịch sử tiêu biểu. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Những con số và kết quả nêu trên là minh chứng khách quan, có sức thuyết phục, bác bỏ hoàn toàn các luận điệu cho rằng Đảng và Nhà nước “bỏ rơi” hay “không quan tâm” đến người có công với cách mạng. Thực tiễn gần 80 năm qua cho thấy, chăm lo người có công không phải là những khẩu hiệu mang tính hình thức mà đã trở thành chính sách lớn, được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nguồn lực ngân sách ngày càng tăng và sự tham gia của cả hệ thống chính trị cùng toàn xã hội.

2.2. Thực tiễn không ngừng hoàn thiện chính sách bác bỏ luận điệu cho rằng chính sách người có công chỉ mang tính hình thức

Một luận điệu sai trái khác thường được các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đưa ra là cho rằng chính sách người có công ở Việt Nam chỉ mang tính tuyên truyền, hình thức, thiếu hiệu quả trong thực tiễn. Chúng cố tình bỏ qua quá trình không ngừng đổi mới, hoàn thiện thể chế và những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong việc khắc phục các hạn chế, bất cập để quy kết rằng việc tri ân người có công chỉ dừng lại ở khẩu hiệu.

Thực tiễn gần 80 năm qua cho thấy điều hoàn toàn ngược lại. Cùng với sự phát triển của đất nước, hệ thống pháp luật về người có công luôn được rà soát, sửa đổi và bổ sung theo hướng ngày càng đồng bộ, toàn diện và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Từ Pháp lệnh ưu đãi người có công năm 1994 đến các lần sửa đổi, bổ sung các năm 1998, 2000, Pháp lệnh năm 2005, năm 2012 và hiện nay là Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14, hệ thống chính sách không ngừng được hoàn thiện nhằm mở rộng đối tượng thụ hưởng, nâng cao mức ưu đãi và bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích chính đáng của người có công và thân nhân. Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định hướng dẫn thi hành và thường xuyên điều chỉnh mức chuẩn trợ cấp phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Đảng và Nhà nước cũng đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực người có công thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, số hóa hồ sơ, liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành và địa phương, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giải quyết thủ tục hành chính và chi trả các chế độ ưu đãi. Những giải pháp này không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tăng cường tính công khai, minh bạch, giảm thời gian giải quyết thủ tục, hạn chế sai sót và tạo thuận lợi cho người dân trong tiếp cận chính sách.

Đặc biệt, việc triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin cùng với việc mở rộng ứng dụng công nghệ giám định ADN, xây dựng ngân hàng gene thân nhân liệt sĩ là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết những tồn đọng lịch sử kéo dài nhiều thập kỷ. Đây không chỉ là bước tiến về khoa học - công nghệ mà còn thể hiện sâu sắc trách nhiệm chính trị, đạo lý và tình cảm của Đảng, Nhà nước đối với các anh hùng liệt sĩ và thân nhân của họ.

3. Tiếp tục phát huy giá trị chính sách người có công gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Thực tiễn gần 80 năm xây dựng và thực hiện chính sách người có công đã khẳng định bản chất nhân văn, tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đồng thời tạo cơ sở thực tiễn vững chắc để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tuy nhiên, trong bối cảnh các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng không gian mạng, những hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách và các vấn đề lịch sử để xuyên tạc, chống phá, việc tiếp tục phát huy giá trị của chính sách người có công cần được triển khai đồng bộ trên cả phương diện chính trị, pháp lý, quản trị và truyền thông.

Cụ thể như: Tiếp tục nâng cao nhận thức về ý nghĩa chính trị, lịch sử và nhân văn của chính sách người có công; Hoàn thiện hệ thống chính sách và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện; Đẩy mạnh chuyển đổi số và tập trung giải quyết các tồn đọng lịch sử; Chủ động đấu tranh trên không gian mạng, lan tỏa giá trị nhân văn của chính sách người có công và xây dựng "lá chắn thông tin" bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; Tiếp tục phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí, đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn xã hội trong công tác chăm lo người có công; Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về chính sách người có công, xây dựng hệ thống luận cứ khoa học phục vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong đó, việc làm rõ những thành tựu, giá trị nhân văn và tính ưu việt của chính sách người có công không chỉ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận cho việc hoạch định chính sách mà còn cung cấp những bằng chứng thực tiễn có sức thuyết phục trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Kết luận

Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là một trong những minh chứng sinh động nhất cho bản chất nhân văn, tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Gần 80 năm qua, từ tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán của Đảng đến hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện cùng những kết quả thiết thực trong chăm lo người có công đã khẳng định truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” không chỉ là đạo lý dân tộc mà còn được hiện thực hóa bằng pháp luật, nguồn lực và sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những thành tựu đó là bằng chứng khách quan, có sức thuyết phục để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ và chính sách người có công ở Việt Nam. Trong bối cảnh mới, tiếp tục hoàn thiện chính sách, đẩy mạnh chuyển đổi số, lan tỏa các giá trị nhân văn và chủ động đấu tranh trên không gian mạng sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.


[1] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, Hà Nội, tập 10, tr. 372.

[2] Xem: Sắc lệnh số 20/SL của Chủ tịch nước: Sắc lệnh đặt ra hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tu sĩ, truy cập 20/7/2026, Nguồn: https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=550.

[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, Hà Nội, tập 5, tr. 584.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr. 148-149.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tập I, tr. 109.

[6] Thanh Nhung, Không ngừng nâng cao đời sống người có công, truy cập 15/7/2026, Nguồn: https://thanhtra.com.vn/an-sinh-AFA9C5670/khong-ngung-nang-cao-doi-song-nguoi-co-cong-818ace120.html.

[7] Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, Hà Nội, tập 12, tr. 401.

[8] Thu Giang, Gặp mặt người có công, nhân chứng lịch sử: Lòng tri ân từ trái tim dân tộc, truy cập 20/7/2026. Nguồn: https://baochinhphu.vn/gap-mat-nguoi-co-cong-nhan-chung-lich-su-long-tri-an-tu-trai-tim-dan-toc-102250724104147082.htm.

[9] Minh Hiền, Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được triển khai đồng bộ, hiệu quả, truy cập 15/7/2026, Nguồn: https://tcnnld.vn/news/detail/72618/Chinh-sach-uu-dai-nguoi-co-cong-voi-cach-mang-duoc-trien-khai-dong-bo-hieu-qua.html.

[10] Chính sách với người có công: Những kết quả nổi bật, nghĩa tình lan tỏa, truy cập 16/7/2026, Nguồn: https://baochinhphu.vn/chinh-sach-voi-nguoi-co-cong-nhung-ket-qua-noi-bat-nghia-tinh-lan-toa-102250726111720117.htm

[11] Chính sách ưu đãi người có công - thành tựu và định hướng phát triển trong giai đoạn mới, truy cập 16/7/2026, Nguồn: https://tcnnld.vn/news/detail/69232/Chinh-sach-uu-dai-nguoi-co-cong-thanh-tuu-va-dinh-huong-phat-trien-trong-giai-doan-moi.html

[12] Minh Hiền, Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được triển khai đồng bộ, hiệu quả, truy cập 15/7/2026, Nguồn: https://tcnnld.vn/news/detail/72618/Chinh-sach-uu-dai-nguoi-co-cong-voi-cach-mang-duoc-trien-khai-dong-bo-hieu-qua.html.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
    • Mặc định
    trống đồng