Góc nhìn khoa học xã hội

Chính sách đối với người có công với cách mạng - Từ lý luận đến thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới xây dựng đất nước

Bạch Dương 22/04/2026 12:09

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở mọi người dân phải luôn ghi nhớ điều đó, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, có cuộc sống như ngày hôm nay phải nhớ đến những người đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Tư tưởng của Người chính là phương châm hành động để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đề cao truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thường xuyên quan tâm, chăm sóc các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh một cách tận tình, chu đáo.

Quan điểm về chính sách đối với thương binh và người có công với nước là một vấn đề lý luận quan trọng trong toàn bộ học thuyết Mác - Lênin. Ăngghen khẳng định: “Sau trận đánh, nếu chúng ta không ở xa lắm, thì chúng ta phải quan tâm một cách thích đáng đến thương binh, nhưng nhiệm vụ cơ bản của chúng ta, trách nhiệm số một của chúng ta là giành được thắng lợi. Người ta không bao giờ bỏ mặc thương binh của quân đội chiến thắng; còn thương binh của quân đội chiến bại phải chịu vô số tai họa”[1]. Lênin cũng cho rằng, “vì công tác an dưỡng ở nước Cộng hòa được tổ chức theo lối mới và nhằm mục đích dành những khu an dưỡng vào việc chữa bệnh và nghỉ ngơi của các thương binh và những người bị tai nạn lao động, các chiến sĩ Hồng quân bị kiệt sức và các công nhân ở miền Bắc bị mệt mỏi, nên cần phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để bảo vệ các khu an dưỡng miền Nam do Hồng quân chiếm lại được”[2].

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, phát huy truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho các anh hùng liệt sĩ, những người đã cống hiến một phần xương máu của mình cho sự trường tồn của dân tộc. Người căn dặn: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ”[3]. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở mọi người dân phải luôn ghi nhớ điều đó, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, có cuộc sống như ngày hôm nay phải nhớ đến những người đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh để bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Tư tưởng của Người chính là phương châm hành động để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đề cao truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, thường xuyên quan tâm, chăm sóc các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh một cách tận tình, chu đáo.

Ngày 17-7-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” và khẳng định, “ngày 27-7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ ý yêu mến thương binh,… Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm, sẻ áo của đồng bào ta, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn”[4]. Năm 1955, “Ngày Thương binh toàn quốc” được đổi thành “Ngày Thương binh, liệt sĩ” và cứ đến ngày này hàng năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư nhắc nhở các bộ chủ quản, các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng về công tác thương binh, liệt sĩ. Sự quan tâm, chỉ bảo, những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá, trở thành nền tảng tư tưởng để Đảng và Nhà nước quán triệt thực hiện qua mỗi thời kỳ cách mạng.

Thực hiện tốt chính sách đối với người có công, vừa là thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam, vừa là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này thể hiện từ rất sớm, ngay từ khi nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngày 26-2-1947, Bộ Quốc phòng ban hành Nghị định số 240/NĐ thành lập Phòng Thương binh thuộc Chính trị Cục Quân đội Quốc gia Việt Nam để giúp kế hoạch và đôn đốc, kiểm soát Ban Thương binh các Khu. Đây là cơ quan chỉ đạo công tác thương binh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 19-7-1947, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Bộ Thương binh - Cựu binh để chỉ đạo việc nghiên cứu chính sách và thực hiện công tác thương binh, liệt sĩ trong cả nước.

Ngay sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), trong điều kiện Đảng phải tập trung khắc phục những khó khăn để xây dựng chế độ mới, chính sách đối với người có công với cách mạng ngày càng được quan tâm, sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung quan trọng, trong đó có nội dung “đối với những người hy sinh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Nhà nước sửa đổi tiêu chuẩn liệt sĩ; thay tiêu chuẩn tử sĩ; cấp bằng Tổ quốc ghi công thay cho Tổ quốc ghi ơn liệt sĩ; quy định việc cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng các nghĩa trang liệt sĩ. Song do đất nước còn nghèo, công tác này chủ yếu dựa vào việc động viên công sức của nhân dân, sử dụng nguyên vật liệu công nếu không phạm đến nhà thờ, đình chùa, tôn giáo, sử dụng quỹ đoàn thể do đoàn viên đóng góp…”[5].

Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” miền Nam và từng bước mở rộng chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh. Điển hình là Nghị định số 77/CP ngày 26-4-1966 của Chính phủ về Chế độ đối với dân công thời chiến; Quyết định số 84/CP ngày 4-5-1966 của Chính phủ về Chế độ đối với lực lượng vận tải nhân dân; Chỉ thị số 71/TTg ngày 21-6-1965 của Chính phủ về Chế độ đối với thanh niên xung phong; Nghị định số 111B/CP ngày 20-7-1968 của Chính phủ về Chế độ đối với công nhân viên chức, cán bộ giữ chức vụ chủ chốt ở xã, dân công phục vụ các chiến trường quan trọng và nhân dân; Nghị định số 111/CP ngày 28-6-1973 của Chính phủ về chế độ đối với cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không...

Kế thừa kết quả, kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, bước vào thời kỳ đổi mới, chính sách đối với người có công tiếp tục được Đảng và Nhà nước Việt Nam chú trọng. Tháng 12-1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ phải “thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, gia đình có công với cách mạng…”[6]. Ngày 23-3-1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 30/CT-TW về Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo chấp hành tốt chính sách hậu phương quân đội. Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) một lần nữa chỉ rõ tầm quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng là phải “có chính sách thích đáng đối với các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh...”[7]. Đặc biệt, ưu đãi người có công với cách mạng đã trở thành nguyên tắc hiến định và được ghi nhận trang trọng trong Hiến pháp 1992: “Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khỏe và đời sống ổn định. Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc”[8]. Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng...

Bước sang thế kỷ XXI, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4-2001) của Đảng xác định: “Chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia đình chính sách đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết hợp ba nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhân các đối tượng chính sách tự vươn lên”[9]. Nhằm tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng, ngày 19-7-2017, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 14-CT/TW với nội dung Về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng. Năm 2021, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú.

Hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ năm 1986 trở đi, công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng trở thành tình cảm, trách nhiệm của toàn xã hội, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Trong thời gian từ 1991-1995, “chỉ tính riêng số thương binh - liệt sĩ được xác nhận xấp xỉ 140.000 người, bao gồm 108.900 thương binh và 31.085 liệt sĩ”[10]. Những năm gần đây, các cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp và đông đảo nhân dân thực hiện có hiệu quả các phong trào Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, ủng hộ Quỹ Đền ơn đáp nghĩa; xây dựng nhà tình nghĩa; vườn cây tình nghĩa; sổ tiết kiệm tình nghĩa; phong trào chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng,… Đến trước tháng 7/2023, cả nước đã vận động được trên 13.000 tỷ đồng để hỗ trợ gia đình người có công xây dựng mới trên 84.000 căn nhà và sửa chữa trên 69.000 căn nhà tình nghĩa; tặng gần 126.000 sổ tiết kiệm cho gia đình chính sách với tổng số tiền trên 1.000 tỷ đồng và hỗ trợ một số trường hợp đặc biệt khó khăn; 3.625 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống được các tổ chức nhận chăm sóc, phụng dưỡng suốt đời. Cả nước đã xác nhận được trên 9,2 triệu người có công, trong đó có trên 1,2 triệu liệt sĩ, gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, trên 800.000 thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, gần 185.000 bệnh binh, trên 320.000 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học và con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học[11]. Riêng trong giai đoạn 2012-2022, mức trợ cấp tăng khoảng 40%, đạt 1.624.000 đồng (từ năm 2019), cao hơn mức lương cơ sở của cán bộ, công chức hiện nay (1.490.000 đồng)[12]...

Với cơ sở nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với người có công với cách mạng cũng như chủ trương, chính sách đúng đắn được ban hành và những kết quả đạt được trong thực hiện chính sách đối với người có công là cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc để tô thắm hơn truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, là giá trị nhân văn bền vững tiếp tục được phát huy trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.


[1] C.Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.326.

[2] Lênin, Toàn tập, tập 50, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.508.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.401.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.204.

[5] Nguyễn Đình Liêu, Một số suy nghĩ về hoàn thiện Pháp luật ưu đãi người có công, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.49-50.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 47, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.558.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 51, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.140.

[8] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.36.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 301.

[10] Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, 50 năm công tác thương binh - liệt sĩ, Nxb Lao động, Hà Nội, 1997, tr. 61.

[11] Ngô Hoàng Nam, “Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ trương, chính sách đối với người có công”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 391 (7-2024).

[12] Nguyễn Bá Hoan, “Chính sách người có công trong chính sách xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Cộng sản chuyên đề, số 7-2023, tr. 92-94.

Đọc thêm
    Đừng bỏ lỡ
    Chính sách đối với người có công với cách mạng - Từ lý luận đến thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới xây dựng đất nước
    • Mặc định
    trống đồng