BÙI SĨ TIÊM VỚI ĐIỀU TRẦN CẢI TỔ (1731)
Bài viết phân tích tư tưởng cải cách của Bùi Sĩ Tiêm về tổ chức đơn vị hành chính và tinh giản bộ máy địa phương qua bản điều trần năm 1731 trong bối cảnh quản trị quốc gia Đại Việt thế kỷ XVIII cho thấy giá trị lịch sử và ý nghĩa đương đại.
1. Mở đầu
Nửa đầu thế kỷ XVIII, chính quyền Lê - Trịnh tuy vẫn duy trì được sự thống nhất của quốc gia nhưng bộ máy hành chính đã bộc lộ nhiều hạn chế. Sau hơn hai thế kỷ phát triển, nhiều phủ, huyện được thành lập trong những điều kiện lịch sử khác nhau, dẫn đến quy mô dân số, diện tích và nguồn lực giữa các đơn vị hành chính rất chênh lệch. Từ trước đến nay, các phủ, huyện thống thuộc ở các hạt nhiều ít không đều, có nơi chỉ một hoặc hai huyện đã lập thành một phủ; có huyện chỉ vài chục xã nhưng bộ máy quan lại vẫn tương đương với những huyện đông dân hơn nhiều lần. Hệ quả là (1) bộ máy hành chính cồng kềnh, (2) chi phí nuôi bộ máy lớn, (3) quan lại nhiều hơn nhu cầu quản lý, (4) nhân dân phải gánh thêm sưu thuế, lao dịch va dẫn đến (5) hiệu quả quản trị giảm sút.
Trong bối cảnh đó, năm Tân Hợi (1731), Bùi Sĩ Tiêm dâng lên chúa Trịnh Giang mười điều khải[2]. Điều thứ năm bàn riêng về tổ chức hành chính địa phương với quan điểm rất rõ rằng là, đặt quan chia chức đều là vì dân, bởi rằng dân ít, quan nhiều, chẳng khỏi nhũng tệ, cho nên kính xin liệu việc mà bổ quan, xem đất mà chia trị[3]. Đây là tư tưởng xuyên suốt toàn bộ kiến nghị của ông.

Khác với quan niệm truyền thống coi việc đặt thêm nha môn là biểu hiện của quyền lực nhà nước, Bùi Sĩ Tiêm cho rằng bộ máy hành chính chỉ có ý nghĩa khi phục vụ người dân; nếu bộ máy trở thành gánh nặng thì cần phải cải tổ.
2. Nội dung cơ bản trong đề nghị cải tổ của Bùi Sĩ Tiêm
2.1. Tổ chức đơn vị hành chính theo quy mô dân cư và nguồn lực
Điểm nổi bật nhất trong cải cách của Bùi Sĩ Tiêm là phản đối việc tổ chức hành chính mang tính hình thức. Ông chỉ rõ tình trạng, "một vài huyện châu cũng đặt làm một phủ, hoặc một hai mươi xã cũng đặt làm một huyện, một châu". Trong khi đó, "chỉ có một nha môn bé nhỏ mà cũng đặt đủ số quan lại". Đây chính là sự mất cân đối giữa quy mô lãnh thổ, quy mô dân số, số lượng đơn vị trực thuộc trong bộ máy quản lý.
Theo ông đây là nguyên nhân làm phát sinh tình trạng "việc công việc tư đều khó kham nổi". Ông đề nghị xác lập một quy mô hành chính tương đối thống nhất, khoảng 4 huyện, châu hợp thành một phủ nhỏ; khoảng 50 xã hợp thành một huyện nhỏ. Nếu chưa đủ quy mô thì tùy nơi thuận tiện mà điều chỉnh địa giới, hoặc chuyển sang đơn vị bên cạnh gần kề, hoặc sáp nhập, gộp những nơi ít thành nhiều, khiến cho chúng không có sự khác nhau giữa nơi ít, nơi nhiều.
Có thể xem đây là tư tưởng quy hoạch đơn vị hành chính dựa trên năng lực quản trị chứ không chỉ dựa trên yếu tố lịch sử.
2.2. Điều chỉnh địa giới theo điều kiện tự nhiên và giao thông
Ông nhận thấy, ở các ngoại trấn[4] có thực trạng, một hai phủ hoặc sáu, bảy huyện, châu có số lượng quan lại lớn, nhỏ khác nhau. Vì vậy, Bùi Sĩ Tiêm đặc biệt nhấn mạnh việc” cần phải "xét xem địa thế, san bổ đều nhau". Ông không đề nghị sáp nhập một cách cơ học mà yêu cầu căn cứ vào vị trí địa lý, khoảng cách, điều kiện đi lại để đảm bảo tính liên kết giữa các đơn vị hành chính với nhau.
Trên cơ sở đó, ông đề nghị điều chuyển hàng loạt đơn vị hành chính như châu Trấn Yên, châu Văn Bàn thuộc trấn Hưng Hóa và châu Văn Lãng, châu Định Hóa thuộc phủ Phú Bình cho lệ thuộc vào trấn Tuyên Quang; đem châu Hữu Lũng, huyện Lục Ngạn của trấn Kinh Bắc và các châu Quảng Uyên, Hạ Lang của Cao Bằng chia thuộc vào trấn Lạng Sơn; các huyện Thủy Đường, Kim Thành, An Dương thuộc phủ Kinh Môn chia thuộc về trấn An Quảng... Điều này cho thấy, ông đã nhìn nhận địa giới hành chính dưới góc độ quản trị thay vì địa giới truyền thống.
2.3. Tinh giảm bộ máy và giảm số lượng quan lại
Đây là nội dung có giá trị hiện đại nhất, vì sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, ông đề nghị, "các quan Thừa, Hiến ở phủ, huyện, châu còn chưa tinh giảm thì nhất thiết phải theo lệ tinh giảm đi… Các xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Yên Quảng cũng nên đổi làm trấn, đặt quan theo lệ Lạng Sơn. Chỉ đặt Đốc trấn, Đốc đồng, riêng coi là phương diện quốc gia, tất cả mọi việc ở trấn đều cho họ nắm giữ, xem xét”. Việc làm đó sẽ giảm đầu mối, giảm số quan lại và không giữ nguyên số lượng quan chức sau sáp nhập. Điều này thể hiện nhận thức rất rõ về mối quan hệ giữa quy mô bộ máy, chi phí ngân sách và hiệu quả quản trị.
Riêng về phương diện giáo dục, ông đề nghị kẻ sĩ đi thi thì cho người ở Tuyên Quang, Hưng Hóa được dự thi cùng với Sơn Tây; Thái Nguyên, Lạng Sơn cùng dự thi với Kinh Bắc; còn An Quảng cho phụ cùng Hải Dương.
2.4. Tăng thẩm quyền cho cấp trấn
Trong các đề nghị cải tổ hệ thống các trấn ở miền núi, bên cạnh việc dồn đổi một số châu, phủ giữa các trấn; đổi xứ thành trấn chính thức; cho đặt Đốc trấn và Đốc đồng quản lý thống nhất. Đặc biệt ông viết, "tất cả mọi việc ở trấn đều cho họ nắm giữ, xem xét". Đây là tư tưởng phân cấp khá mạnh trong điều kiện nhà nước quân chủ trung ương tập quyền thời bấy giờ.
2.5. Mục tiêu cuối cùng là giảm gánh nặng cho nhân dân
Một khi số phủ, châu, huyện đã giảm thì số quan lại đương nhiên sẽ không nhiều. Đó chính là lúc thực thi giải pháp thưởng cho người nào vỗ về, chăn dân giỏi, nghiêm cấm hình phạt bạo ngược, hà khắc, thì kết quả là, quan không tham lam, cầu cạnh, dân không bị mệt nhọc, phiền nhiều. Đó chính là liệu pháp “giảm bớt chức quan để đỡ phiền nhiễu vậy”.
Đây chính là triết lý chung, vì cải cách hành chính nhằm phục vụ nhân dân, chứ không phải để mở rộng bộ máy.
3. Việc hiện thực hóa một phần những đề nghị cải tổ
Trước điều trần cải tổ của Bùi Sĩ Tiêm, chúa Trịnh Cương tiến hành một số cải cách, "đã bước đầu góp phần tạo nên sự ổn định trật tự xã hội và thúc đẩy quá trình phát triển nhanh chóng của nền kinh tế đất nước"[5]. Về tinh giảm đội ngũ quan lại, năm 1721, cho giảm bớt số viên chức ở ngoại trấn, trong đó có hai ty (Thừa chính, Hiến sát) và phủ huyện ở các trấn Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn đều đình chỉ việc phó nhậm, công việc của các chức quan ấy hết thảy đều dồn về các trấn quan.
Riêng hai ty ở Thái Nguyên và các huyện ở Phú Bình, địa phận giáp giới với một trấn, không ví như các nơi biên viễn khác, nên cho được nhậm chức như cũ, còn các phủ, huyện, châu, như Thông, Hóa, Vũ Định cũng theo lệ chung đình chỉ việc cử người đến nhậm chức và dồn việc về cho trấn quan, vì "làm như vậy để giảm bớt sự tổn phí về người thừa và trừ bỏ tệ mọt dân"[6].
Trong khi đó, về phương diện tổ chức hành chính, năm 1723, cho định lại giới mốc các châu, huyện trong cả nước, vì bản đồ cũ trong nước gồm 13 đạo/trấn, xét ra các xã dân thuộc về các phủ, huyện, cũng có nơi xa nơi gần không đều nhau, nay đem hai phủ Trường Yên và Thiên Quan trước thuộc Sơn Nam nay cho thuộc vào Thanh Hoa; về trấn Sơn Tây, đem phần huyện Bất Bạt trước thuộc phủ Đà Dương nay cho lệ thuộc vào phủ Quảng Oai; phần huyện Tam Nông nay cho lệ thuộc vào phủ Lâm Thao; cắt huyện Tiên Phong (tức Tân Phong) trước thuộc phủ Tam Đái, nay cho lệ thuộc vào phủ Quảng Oai; còn các xã, thôn khác phần nhiều thay đổi cho lệ thuộc vào các châu, huyện[7]. Đây có thể coi là những tiền đề cho đề nghị cải tổ của Bùi Sĩ Tiêm.
Mặc dù đề nghị của ông về tước bỏ hết quan chức, cho về quê không được chúa Trịnh Giang chấp nhận, nhưng sau đó, nhiều nội dung liên quan được áp dụng, triển khai. Năm 1742, chúa Trịnh Doanh cho bỏ bớt chức quan của Hiến ty ở các trấn Tuyên Quang, Hưng Hóa, An Quảng, đem chức trách ấy giao cả cho quan Trấn thủ làm[8].
Năm 1763, tiếp tục giảm bớt Thừa ty và số quan phủ, huyện ở trấn An Quảng, các việc binh dân, kiện tụng đều quy về Trấn ty[9]. Năm 1776, do trấn Thái Nguyên thuộc đất biên giới xa xôi, nhiều rừng núi, dân thì Thổ, Nùng ở lẫn nhau, các quan phủ huyện đóng riêng một nơi, người sai đến dân dễ làm phiền nhiễu, trước Thừa ty đã dồn về trấn, nay quan chức của 5 huyện, châu là Bạch Thông, Cảm Hóa, Văn Lãng, Đại Từ, Võ Nhai của phủ Thông Hóa cũng xin cho dồn về trấn cho tiện[10].
Đặc biệt, năm 1767, chúa Trịnh Sâm lấy cớ nhân dân trong nước điêu tàn hao hụt, nếu đặt nhiều quan chức chỉ phiền nhiễu cho dân, nên đã cho thay đổi tệ ấy, bèn bàn định thi hành việc hợp lại hoặc bỏ bớt gồm 4 phủ, 29 châu, huyện của các trấn Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương, Thái Nguyên, Sơn Tây, Thanh Hoa, Nghệ An theo phương thức “cho tùy nghi kiêm lý phủ huyện gần đó”[11]. Đây là đợt điều chỉnh, thay đổi lớn nhất về đơn vị hành chính cấp phủ, huyện dưới thời Lê - Trịnh. Lý do được nêu rất rõ, là "đặt nhiều quan chức chỉ phiền nhiễu cho dân"[12].
Cũng trong năm này, Đốc trấn Ngô Thì Sĩ khi lên trấn nhậm ở trấn Thái Nguyên đã dẫn điều trần của Bùi Sĩ Tiêm trong việc điều chỉnh địa giới hành chính để giải quyết xung đột giữa những phu mỏ người Nùng (Đại Việt) với người Hoa (ở Triều Châu và Thiều Châu, Trung Quốc).
Việc hợp phủ, kiêm huyện năm 1767 là một chính sách quản trị công hợp lý, giúp giảm chi phí, giảm phiền nhiễu, tăng hiệu suất. Dẫu vậy, việc điều chỉnh này diễn ra muộn, mang tính chất “giải quyết tình thế” tạm thời hơn, vì “đợi đến khi dân trở lại trù mật sẽ lại theo lệ cũ”[13].
4. Giá trị lịch sử trong cải tổ của Bùi Sĩ Tiêm
Nhìn từ lịch sử hành chính Việt Nam, có thể thấy Bùi Sĩ Tiêm đã đưa ra nhiều tư tưởng vượt trước thời đại, nhất là 10 điều trần, thể hiện rõ “khí phách trong suốt như băng tuyết, tấu bẩm như thuốc đắng đá châm”[14], được Ngô Thì Nhậm đánh giá rất cao, so sánh với Thất trảm sớ của Chu Văn An thời Trần và vì thế, "thần kính xin theo lệ Chu Văn Trinh triều trước, cho đem Bùi Tiêm vào tòng tự ở Văn Miếu, để làm rạng vẻ cho nền lý học của bản triều và khuyến khích các sĩ phu trong thiên hạ"[15].
Thứ nhất, tổ chức bộ máy theo nhu cầu quản trị. Ông phản đối việc tồn tại các đơn vị hành chính quá nhỏ nhưng vẫn có đầy đủ bộ máy. Đây chính là nguyên tắc quản trị hướng đến hiệu quả, quy mô tổ chức phải tương ứng với khối lượng công việc.
Thứ hai, coi hiệu quả phục vụ nhân dân là tiêu chuẩn đánh giá bộ máy. Không phải số lượng quan lại nhiều thì quản lý tốt, mà quan trọng là, dân có đỡ phiền hà hay không, chi phí quản lý có hợp lý hay không.
Thứ ba, kết hợp cải cách địa giới hành chính với tinh giảm đội ngũ quan lại. Ông không chỉ đề nghị sáp nhập, kiêm lý giữa các đơn vị hành chính, điều quan trọng hơn là, sau khi sáp nhập phải giảm số lượng quan cai trị.
Thứ tư, kết hợp tập quyền và phân quyền. Ở cấp địa phương, ông đề nghị giao quyền nhiều hơn cho Trấn ty, giảm tầng nấc trung gian, tăng hiệu quả quản lý.
5. Liên hệ với cải cách chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay Việt Nam triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp là một cuộc cải cách lớn, nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị. Dù bối cảnh lịch sử hoàn toàn khác với thế kỷ XVIII, nhưng có thể nhận thấy một số điểm tương đồng về tư duy quản trị.
Đó là, cùng xuất phát từ yêu cầu tinh gọn bộ máy; cùng coi quy mô dân số, diện tích là tiêu chí tổ chức đơn vị hành chính; đều hướng tới giảm chi phí công; và tăng cường phân cấp.
Tuy nhiên, điểm khác biệt căn bản là, Bùi Sĩ Tiêm đề xuất cải tổ trong khuôn khổ nhà nước quân chủ, trong khi đó, cải cách hiện nay được thực hiện trong khuôn khổ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, đồng thời gắn với cải cách thể chế, chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính và xây dựng nền hành chính phục vụ. Tuy nhiên, xét dưới góc độ tư duy quản trị, đều lấy hiệu quả và lợi ích của người dân làm trung tâm.
6. Giá trị tham chiếu giữa cải tổ của Bùi Sĩ Tiêm với đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái về cải cách chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay
Những đề nghị cải tổ của Bùi Sĩ Tiêm năm 1731 không chỉ có ý nghĩa như một tư tưởng quản trị tiến bộ của thế kỷ XVIII mà còn cung cấp những luận cứ lịch sử quan trọng để nhận diện và phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về chủ trương đổi mới tổ chức chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam hiện nay. Mặc dù bối cảnh lịch sử, chế độ chính trị và điều kiện phát triển của đất nước giữa hai thời kỳ hoàn toàn khác nhau, song điểm gặp gỡ căn bản là đều hướng đến mục tiêu xây dựng một bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ nhân dân.
- Lịch sử bác bỏ luận điệu cho rằng, tinh gọn bộ máy hiện nay chỉ là “sắp xếp cơ học”, thiếu cơ sở khoa học. Đối chiếu với lịch sử có thể thấy, yêu cầu điều chỉnh quy mô đơn vị hành chính phù hợp với dân số, điều kiện địa lý và năng lực quản trị đã được đặt ra từ rất sớm trong lịch sử Việt Nam.
Theo ông, đó là nguyên nhân làm cho “việc công việc tư đều khó kham nổi”, gây lãng phí nguồn lực và gia tăng gánh nặng cho nhân dân. Để khắc phục tình trạng này, ông không đề xuất việc sáp nhập một cách đơn thuần mà nhấn mạnh phải “xét xem địa thế, san bổ đều nhau”, tức là việc điều chỉnh đơn vị hành chính phải căn cứ vào vị trí địa lý, điều kiện giao thông, quy mô dân cư và tính liên kết giữa các địa phương. Đây chính là tư duy quy hoạch hành chính theo cơ sở khoa học và nhu cầu quản trị thực tiễn.
Thực tiễn lịch sử cũng chứng minh, nhiều đề nghị của ông sau đó đã được phản ánh trong các cuộc điều chỉnh địa giới dưới thời chúa Trịnh, đặc biệt là cuộc cải tổ năm 1767 nhằm giảm bớt bộ máy trung gian. Điều này cho thấy việc sắp xếp đơn vị hành chính không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là quy luật khách quan của quản trị quốc gia khi quy mô dân cư, điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu phát triển thay đổi.
- Tư tưởng “đặt quan chia chức đều là vì dân” bác bỏ luận điệu cho rằng cải cách quản trị hiện nay chỉ nhằm “tập trung quyền lực”. Bài học lịch sử đã chỉ rõ, giảm số lượng quan lại, giảm tầng nấc trung gian nhưng đồng thời tăng cường trách nhiệm quản lý của cấp trấn trực tiếp điều hành các công việc của địa phương. Điều đó phản ánh tư tưởng phân quyền trong quản trị, nhằm rút ngắn quá trình điều hành, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu và tăng hiệu quả thực thi công vụ.
- Thực tiễn lịch sử phủ nhận quan điểm cho rằng sáp nhập đơn vị hành chính sẽ “đánh mất bản sắc dân tộc”, “xóa sổ làng quê”, “xóa bỏ truyền thống tổ tiên”. Trong khi, suốt tiến trình phát triển của quốc gia, địa giới hành chính đã nhiều lần được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu quản trị. Các cuộc điều chỉnh năm 1723, 1767 và nhiều lần thay đổi địa giới tại Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng... đều làm thay đổi phạm vi quản lý của nhiều phủ, huyện và châu. Tuy nhiên, các giá trị văn hóa truyền thống, phong tục tập quán, hệ thống di tích, tín ngưỡng, lễ hội và bản sắc của các cộng đồng cư dân vẫn được bảo tồn và tiếp tục phát triển.
7. Kết luận
Từ góc nhìn lịch sử, những đề nghị cải tổ của Bùi Sĩ Tiêm năm 1731 không chỉ phản ánh tư duy quản trị vượt trước thời đại[16] mà còn để lại nhiều giá trị tham chiếu đối với công cuộc đổi mới nền hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Tư tưởng tổ chức bộ máy theo nhu cầu quản trị, điều chỉnh đơn vị hành chính phù hợp với quy mô dân cư và nguồn lực, tinh giản biên chế gắn với phân cấp hợp lý, đồng thời lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu cao nhất đã trở thành những nguyên tắc quản trị có giá trị bền vững.
Trong bối cảnh triển khai chính quyền địa phương hai cấp, việc nghiên cứu và vận dụng những bài học từ lịch sử không nhằm đồng nhất hai thời kỳ có điều kiện chính trị và thể chế khác nhau, mà để khẳng định tính kế thừa của tư duy quản trị quốc gia Việt Nam trong việc không ngừng đổi mới bộ máy nhà nước vì mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và phục vụ nhân dân.
Đồng thời, các tư liệu lịch sử cũng góp phần cung cấp cơ sở khoa học để nhận diện và phản bác những quan điểm xuyên tạc, quy chụp hoặc mang tính thuyết âm mưu về cải cách hành chính. Qua đó có thể thấy rằng, cải cách tổ chức chính quyền địa phương không phải là sự phủ định truyền thống, mà là sự tiếp nối một dòng chảy cải tổ hành chính đã được hình thành trong lịch sử dân tộc, được phát triển và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển đất nước trong thời kỳ mới./.
Chú thích:
[1] Bùi Sĩ Tiêm (1690-1733), người làng Kinh Lũ (nay thuộc xã Diên Hà, tỉnh Hưng Yên), đỗ Đình nguyên, Hoàng giáp năm 1715, từng trải các chức quan Hiệu lý Hàn lâm viện, Thừa chính sứ Sơn Tây, Đông các Hiệu thư, Thái thường Tự khanh. Sau khi những điều trần của ông không được chấp nhận, bị đuổi về quê, không lâu thì mất. Đến triều vua Lê Hiển Tông, triều đình thấy ông là người trung thực, nên truy tặng chức Tham chính, Đại học sĩ, tước Trung Tiết hầu, cấp ruộng cúng tế để biểu dương. Phan Huy Chú xếp Bùi Sĩ Tiêm là một trong 42 nhà Nho có đức nghiệp thời Lê Trung hưng và có đánh giá, “ông vì việc can thẳng phải về nhà, phong độ tiết táo lại lẫm liệt, thiện hạ đều kính mộ” (Lịch triều hiến chương loại chí, Tập I, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 463).
[2] Bao gồm (1) Nêu lên mối nghi ngờ của dư luận về việc các chúa Trịnh ức hiếp vua Lê, (2) phê phán tệ tham nhũng hối lộ công khai ở triều đình, (3) lên án tệ nạn cường hào chiếm đoạt ruộng đất khiến cho dân chúng đói khổ phiêu bạt, (4) nêu lên sự phiền nhũng đối với dân chúng trong trong việc cung đốn phu phen binh dịch, (5) phê phán tệ nạn quan liêu “dân ít quan nhiều”, (6) nói về năng lực của quan lại, đề nghị thanh lọc ra những kẻ tham ô nhũng nhiễu dân chúng, đuổi về, (7) phê phán lối học khoa cử, vô bổ đối với việc cai trị, đề nghị chấn hưng thực học để đào tạo nhân tài, (8) làm rõ lệ xét xử để chấm dứt tệ nạn trong xét xử kiện tụng, (9) sự cần thiết phải cử các quan có trách nhiệm đi điều tra tình hình thực tế của dân chúng ở các địa phương và (10) phê phán việc buông lỏng quản lý đối với người nước ngoài đến khai thác rừng và tài nguyên khoáng sản, lưu ý về âm mưu vơ vét sản vật và nhòm ngó đất nước của ngoại bang.
[3] Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 126.
[4] Thời Lê sơ trước đây và sau này thời Lê - Trịnh vẫn duy trì, có 4 nội trấn (các trấn xung quanh Kinh thành Thăng Long là Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam và Sơn Tây) và 5 ngoại trấn là Yên Quảng, Cao Bằng, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn.
[5] Nguyễn Đức Nhuệ: Cải cách của Trịnh Cương đầu thế kỷ XVII, Luận án Tiên sĩ sử học, bản lưu tại Thư viện Viện Sử học, Hà Nội, 2000, tr. 143-144.
[6] Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Sđd, tr. 85.
[7] Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2008, tr. 438.
[8] Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Sđd, tr. 184.
[9] Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Sđd, tr. 276.
[10] Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Sđd, tr. 424.
[11] Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Sđd, tr. 312.
[12] Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Sđd, tr. 675.
[13] Đại Việt sử ký tục biên (1676-1789), Sđd, tr. 312.
[14] Nguyên Phong: Đình nguyên, Hoàng giáp Bùi Sĩ Tiêm: “Còn một lòng âu việc nước”, truy cập ngày 29/7/2026. Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/tri-thuc-nong-dan/dinh-nguyen-hoang-giap-bui-si-tiem-con-mot-long-au-viec-nuoc-d414743.html
[15] “Bàn về giáo dục” của Ngô Thì Nhậm, trong Tuyển tập thơ và văn Ngô Thì Nhậm, tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr. 164.
[16] Trần Kim Anh: Bùi Sĩ Tiêm và một bài học lịch sử, truy cập ngày 29/7/2026. Nguồn: https://vanhoanghean.com.vn/chi-tiet-tin-tuc/118-bui-si-tiem-va-mot-bai-hoc-tu-lich-su.


