Bản sắc văn hóa Việt Nam – thành trì không thể xâm phạm
Bản sắc văn hóa Việt Nam là di sản quý báu, nguồn lực nội sinh và điểm tựa tinh thần của dân tộc; cần được bảo vệ, phát huy trong hội nhập và chuyển đổi số.

1. Bản sắc văn hóa – hồn cốt làm nên sự trường tồn của dân tộc
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa giàu tính khái quát về văn hóa: vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật cùng những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày; toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó chính là văn hóa[1]. Cách tiếp cận ấy cho thấy văn hóa không phải là thứ tách rời đời sống, mà thấm vào toàn bộ phương thức sinh tồn và phát triển của một cộng đồng người.
Với tinh thần trên, ngay từ những ngày đầu lập nước, tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất khai mạc ngày 24-11-1946 ở Nhà hát Lớn Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một luận điểm trở thành kim chỉ nam: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”[2]. Trong hoàn cảnh vận nước “ngàn cân treo sợi tóc”, việc đặt văn hóa ở vị trí dẫn đường cho cả dân tộc cho thấy tầm nhìn chiến lược: muốn giành và giữ độc lập, trước hết phải giữ cho được tinh thần tự chủ, tự cường – thứ cốt lõi nằm trong văn hóa.
Lịch sử dân tộc đã chứng minh có những giai đoạn đất nước mất chủ quyền về mặt nhà nước, nhưng chưa bao giờ bản sắc văn hóa bị nhạt phai. Suốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc và những thế kỷ chống ngoại xâm sau đó, tiếng nói, phong tục, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tinh thần cố kết cộng đồng vẫn được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính lớp “trầm tích” văn hóa bền bỉ ấy đã giữ cho dân tộc một bản sắc riêng, không bị hòa tan. Văn hóa, vì thế, là tuyến phòng thủ sâu nhất và cũng vững nhất của một dân tộc.
Cần nhấn mạnh rằng bản sắc văn hóa không phải là một khái niệm trừu tượng, xa rời cuộc sống. Nó hiện diện trong tiếng mẹ đẻ mà mỗi người Việt nói hằng ngày, trong nếp nghĩ trọng tình nghĩa, trong đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, trong tinh thần yêu nước nồng nàn, trong ý thức cộng đồng và lòng nhân ái. Đó là hệ giá trị đã định hình nên nhân cách và lối sống của con người Việt Nam qua bao thế hệ. Khi nói bảo vệ bản sắc văn hóa, thực chất là bảo vệ chính những giá trị làm nên con người Việt Nam – điều thiêng liêng và cũng thiết thực bậc nhất đối với sự tồn vong và phát triển của dân tộc.
2. Đường lối nhất quán của Đảng về xây dựng nền văn hóa dân tộc
Kế thừa truyền thống và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi văn hóa là một mặt trận trọng yếu. Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 với ba nguyên tắc “dân tộc – khoa học – đại chúng”[3], đường lối văn hóa của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển cho phù hợp với từng giai đoạn cách mạng.
Bước ngoặt quan trọng về tư duy lý luận là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, ban hành ngày 16-7-1998, về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc[4]. Nghị quyết khẳng định một quan điểm nền tảng: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Lần đầu tiên, vị trí của văn hóa được đặt ngang hàng với các trụ cột kinh tế, chính trị, xã hội một cách hệ thống.
Trước đó, ngay trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (thông qua tại Đại hội VII năm 1991, bổ sung và phát triển năm 2011), nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã được xác định là một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng[5]. Đây là sự khẳng định rằng bản sắc văn hóa không đối lập với hiện đại hóa, mà là điều kiện để hiện đại hóa không đánh mất phương hướng.
Tiếp nối mạch tư duy đó, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước[6]. Điểm mới của Nghị quyết là đặt nhân tố con người vào vị trí trung tâm: xây dựng văn hóa suy cho cùng là xây dựng con người có nhân cách, đạo đức, lối sống tốt đẹp, coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển bền vững.
Đến Đại hội XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, xem đó là nguồn lực nội sinh và động lực to lớn của sự nghiệp đổi mới[7]. Như vậy, từ năm 1943 đến nay, có thể thấy một sợi chỉ đỏ xuyên suốt: chăm lo cho văn hóa chính là chăm lo cho sự trường tồn và phát triển của dân tộc.
Mạch tư duy ấy tiếp tục được nâng lên một tầm cao mới khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Ngày 7-1-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam[8] – một văn kiện chuyên đề có ý nghĩa định hướng chiến lược. Nghị quyết khẳng định văn hóa Việt Nam là kết tinh những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, là nguồn lực nội sinh quan trọng hun đúc trí tuệ, tâm hồn, khí phách và bản lĩnh người Việt Nam; đồng thời xác định đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc.
Một điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết là yêu cầu nhận thức và xử lý hài hòa, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hóa: giữa giữ gìn và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế, giữa bảo tồn và đổi mới, giữa đời sống thực và không gian số, giữa dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số. Cách đặt vấn đề này cho thấy tư duy lãnh đạo văn hóa đã bám sát những biến đổi sâu sắc của thời đại số, khi mà việc gìn giữ bản sắc không còn chỉ diễn ra trong đời sống thực mà còn trên không gian mạng – một địa hạt mới mẻ nhưng đầy thách thức.
Nghị quyết cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế cần khắc phục: môi trường văn hóa chưa thật sự lành mạnh, đạo đức xã hội có biểu hiện xuống cấp, có nơi có lúc mất bản sắc; sự bùng nổ của các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của những yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa, gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Từ đó, Nghị quyết đặt ra nhiệm vụ xây dựng thế trận văn hóa gắn với quốc phòng, an ninh; phát huy vai trò nền tảng của văn hóa trong việc hình thành bản lĩnh và “sức đề kháng” trước các tác động lệch chuẩn của văn hóa ngoại lai; kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, tin giả trên mạng xã hội; giữ gìn thuần phong mỹ tục và vun đắp niềm tự hào dân tộc[9].
Tinh thần đó được kết tinh và nâng tầm tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tiếp tục hoàn thiện quan điểm về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới; xác định cần triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng vươn lên; tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường, cộng đồng và trên không gian mạng[10]. Đặc biệt, văn hóa được nhìn nhận không chỉ là nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh, mà còn là “sức mạnh mềm” chiến lược của quốc gia – một yếu tố then chốt để nâng cao vị thế, uy tín đất nước trong cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Như vậy, có thể thấy rõ một bước tiến trong tư duy: nếu trước đây văn hóa chủ yếu được nhìn ở vai trò “soi đường” và làm nền tảng tinh thần, thì nay văn hóa còn được xác định là động lực phát triển, là tài nguyên và sức mạnh cạnh tranh của quốc gia. Giữ gìn bản sắc, theo cách tiếp cận mới này, không tách rời mà gắn chặt với phát triển: một nền văn hóa giàu bản sắc, có sức cạnh tranh và sức lan tỏa chính là cách khẳng định và bảo vệ căn cước dân tộc hữu hiệu nhất trong thế giới hiện đại.
3. Nhận diện các thách thức và hành vi xâm phạm không gian tư tưởng – văn hóa
Toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra cơ hội lớn cho giao lưu, tiếp biến văn hóa, nhưng đồng thời cũng đặt bản sắc dân tộc trước những thử thách chưa từng có. Không gian mạng trở thành môi trường mà ở đó các luồng thông tin, giá trị, lối sống ngoại lai du nhập với tốc độ và quy mô khổng lồ. Bên cạnh những giá trị tiến bộ của nhân loại đáng tiếp thu, không ít sản phẩm độc hại, lối sống thực dụng, tâm lý sùng ngoại, coi nhẹ giá trị truyền thống cũng theo đó lan tỏa, nhất là trong một bộ phận giới trẻ.
Đáng lưu ý hơn, văn hóa còn là một địa hạt bị các thế lực thiếu thiện chí lợi dụng. Thực tế cho thấy có những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc lịch sử và truyền thống dân tộc; phủ nhận thành quả cách mạng; gieo rắc tâm lý hoài nghi, tự ti dân tộc; hoặc tuyệt đối hóa cái gọi là “hội nhập” để cổ vũ cho việc rũ bỏ những giá trị làm nên cốt cách Việt Nam. Bản sắc văn hóa dân tộc đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng, đòi hỏi một nhãn quan phân tích sắc bén để kịp thời nhận diện và ngăn chặn:
Thứ nhất là thủ đoạn lợi dụng quyền tự do sáng tạo nghệ thuật nhằm mục đích xuyên tạc lịch sử
Một trong những nguy cơ mang tính trực diện nhất hiện nay là việc một số cá nhân, tổ chức lợi dụng các diễn đàn học thuật, không gian mạng hoặc việc sáng tạo văn học, nghệ thuật để truyền bá các thông điệp bóp méo lịch sử. Họ sử dụng chiêu bài “giải huyền thoại”, “trả lại sự thật lịch sử” để đưa ra những góc nhìn phiến diện, hạ bệ các biểu tượng anh hùng dân tộc, bôi đen các giai đoạn chiến tranh cách mạng hào hùng.
Hành vi này nguy hiểm ở chỗ nó không tấn công trực diện vào lý luận chính trị, mà thẩm thấu dần dần qua các bộ phim, cuốn truyện, bài viết mang tính giải trí. Mục tiêu cuối cùng của các đối tượng này là làm xói mòn niềm tự hào dân tộc, gieo rắc sự hoài nghi trong thế hệ trẻ về tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến giành độc lập, từ đó gián tiếp phủ nhận tính hợp pháp lịch sử của hệ thống chính trị hiện tại.
Thứ hai là xu hướng lai căng văn hóa và nguy cơ khủng hoảng hệ giá trị trên không gian mạng
Sự phát triển bùng nổ của mạng xã hội đã tạo điều kiện cho các sản phẩm văn hóa độc hại, phản cảm, trái với thuần phong mỹ tục dễ dàng tiếp cận người sử dụng. Chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, lối sống thực dụng, sùng bái vật chất và các xu hướng bạo lực đang được truyền bá một cách thiếu kiểm soát thông qua các tài khoản trực tuyến có lượng theo dõi lớn.
Sự thâm nhập thầm lặng này dẫn đến hiện tượng “đồng hóa văn hóa” (Cultural homogenization), khiến một bộ phận giới trẻ quay lưng với nghệ thuật truyền thống, nhạt nhòa về bản sắc, mất đi phương hướng giá trị sống. Khi một thế hệ bị rỗng tuếch về văn hóa bản địa, họ sẽ trở nên cực kỳ tổn thương và dễ dàng bị lôi kéo bởi các học thuyết chính trị cực đoan hoặc các luận điệu kích động từ bên ngoài.
Thứ ba là hiện tượng lợi dụng đặc thù văn hóa tộc người nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Tại các địa bàn chiến lược, các phần tử xấu thường xuyên lợi dụng đặc điểm đa dạng văn hóa và những khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số để tiến hành các hoạt động kích động ly khai. Họ bóp méo các chính sách bảo tồn của Nhà nước, vu cáo chính quyền “đồng hóa ngôn ngữ”, “vi phạm quyền văn hóa bản địa”. Thông qua các báo cáo sai lệch gửi cho các tổ chức quốc tế thiếu thông tin, họ cố tình tạo ra sự đối lập giả tạo giữa văn hóa của các vùng miền với văn hóa chung của quốc gia. Đây thực chất là mưu đồ sử dụng yếu tố sắc tộc và văn hóa làm ngòi nổ để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo cớ cho sự can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước.
Ngoài ra, phải nhìn nhận một cách tỉnh táo rằng nguy cơ đối với bản sắc văn hóa không chỉ đến từ bên ngoài. Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ và người dân; tâm lý chạy theo lợi ích vật chất, xem nhẹ các giá trị tinh thần; sự đứt gãy trong trao truyền văn hóa giữa các thế hệ – tất cả đều là những “vết rạn” từ bên trong. Bảo vệ thành trì văn hóa, do đó, không thể chỉ trông cậy vào việc ngăn chặn tác động ngoại lai, mà trước hết phải bồi đắp cho được sức đề kháng nội tại của chính cộng đồng.
4. Định hướng và các giải pháp nhằm giữ gìn, bảo vệ bản sắc văn hóa trong tình hình mới
Thứ nhất là hài hòa giữa giữ gìn bản sắc và mở cửa hội nhập
Một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn cần được nhìn nhận thấu đáo là mối quan hệ giữa giữ gìn bản sắc dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Có quan niệm cho rằng muốn hiện đại hóa thì phải gác lại truyền thống; ngược lại, cũng có khuynh hướng đề cao quá mức cái cũ đến mức khép kín, dị ứng với mọi yếu tố mới. Cả hai cực đoan đó đều không phù hợp với quy luật vận động của văn hóa và đều bất lợi cho sự phát triển.
Thực tiễn lịch sử văn hóa Việt Nam cho thấy bản sắc dân tộc chưa bao giờ là một thực thể đứng yên, bất biến. Trái lại, nó được hình thành và làm giàu thông qua quá trình tiếp biến lâu dài: từ việc tiếp thu, bản địa hóa nhiều yếu tố của các nền văn minh trong khu vực, đến việc chọn lọc tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây trong thời kỳ cận – hiện đại. Chính khả năng “gạn đục khơi trong”, biến cái của người thành cái của mình mà không đánh mất cốt cách riêng, đã làm nên sức sống dẻo dai của văn hóa Việt. Như vậy, bản lĩnh văn hóa của một dân tộc không thể hiện ở chỗ từ chối giao lưu, mà ở năng lực tiếp nhận có chọn lọc và sáng tạo.
Quan điểm “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Đảng ta xác định chính là lời giải cho bài toán ấy. “Tiên tiến” đòi hỏi nền văn hóa phải hiện đại, khoa học, nhân văn, bắt nhịp với trình độ phát triển của thời đại; “đậm đà bản sắc dân tộc” yêu cầu nền văn hóa ấy phải giữ được hồn cốt, cá tính, hệ giá trị riêng có của con người Việt Nam. Hai vế ấy không loại trừ mà bổ sung, làm điều kiện cho nhau. Một nền văn hóa chỉ chạy theo cái mới mà đứt gãy với cội nguồn sẽ trở nên vong bản; ngược lại, một nền văn hóa chỉ khư khư giữ cái cũ mà khước từ đổi mới sẽ tự đánh mất sức sống và khả năng cạnh tranh.
Từ cách đặt vấn đề đó, có thể thấy việc bảo vệ bản sắc văn hóa không đồng nghĩa với tâm thế phòng thủ thụ động, càng không phải là sự bài ngoại. Đó là quá trình chủ động: chủ động chọn lọc cái hay của thế giới để bồi đắp cho mình, đồng thời chủ động lan tỏa những giá trị tốt đẹp của dân tộc ra bên ngoài. Khi văn hóa Việt Nam có sức hấp dẫn và sức cạnh tranh trên trường quốc tế, đó cũng chính là hình thức bảo vệ bản sắc hiệu quả và bền vững nhất – bảo vệ bằng sự khẳng định, chứ không chỉ bằng sự ngăn giữ.
Thứ hai là phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc tạo lập các giá trị văn hóa chính thống
Mọi chiến lược phát triển hay bảo vệ không gian tư tưởng sẽ đều trở nên vô nghĩa nếu không có sự tham gia chủ động của quần chúng nhân dân. Cần đẩy mạnh chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa (điện ảnh, âm nhạc, du lịch văn hóa, thiết kế...) dựa trên tài nguyên bản địa. Chúng ta cần tạo ra những sản phẩm văn hóa chất lượng cao, có sức cạnh tranh lớn, đủ sức hấp dẫn và giữ chân công chúng nội địa, đặc biệt là thế hệ trẻ, ngay trên sân nhà.
Phương thức hiệu quả nhất là làm cho không gian văn hóa tràn ngập những giá trị tích cực. Hãy dùng những giá trị chân - thiện - mỹ, dùng những câu chuyện lịch sử chân thực, sống động được thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại để đẩy lùi, triệt tiêu không gian sống của các sản phẩm lai căng, đồi trụy. Việc tạo lập một hệ sinh thái văn hóa lành mạnh chính là cách thức phòng ngừa từ xa có hiệu quả bền vững nhất.
Thứ ba là chủ động hội nhập, nâng cao hiệu quả ngoại giao văn hóa và đấu tranh dư luận trên trường quốc tế
Trong thế giới phẳng, việc bảo vệ bản sắc không đồng nghĩa với việc đóng cửa, tự cô lập. Trái lại, Việt Nam cần chủ động, tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác văn hóa đa phương của UNESCO, ASEAN và các tổ chức quốc tế khác. Chúng ta cần chủ động giới thiệu, quảng bá rộng rãi các giá trị văn hóa đặc sắc, các chính sách của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền văn hóa của các dân tộc đến bạn bè quốc tế.
Việc cung cấp thông tin chính thống, minh bạch và kịp thời bằng nhiều ngôn ngữ trên các nền tảng truyền thông hiện đại là biện pháp hữu hiệu nhất để bẻ gãy các báo cáo sai lệch, định kiến của các tổ chức nước ngoài thiếu thiện chí. Khi thế giới hiểu đúng, hiểu rõ về một Việt Nam giàu bản sắc, tôn trọng quyền con người và có trách nhiệm với di sản nhân loại, mọi âm mưu bôi nhọ quốc gia về mặt tư tưởng sẽ hoàn toàn thất bại.
Cùng với đó, áp dụng đồng bộ các giải pháp, trong đó, hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về văn hóa số nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời các nội dung văn hóa độc hại, tin giả, thông tin xuyên tạc lịch sử trên không gian mạng,...
5. Kết luận
Bản sắc văn hóa Việt Nam là kết tinh trí tuệ, tâm hồn và bản lĩnh của bao thế hệ, là chứng chỉ về sự tồn tại độc lập của dân tộc trong cộng đồng nhân loại. Giữ gìn bản sắc ấy không có nghĩa là khép kín, bảo thủ, mà là giữ cho được cái gốc để vững vàng vươn lên. Trong một thế giới biến động nhanh và khó lường, thành trì văn hóa càng cần được củng cố không phải bằng sự đề phòng cực đoan, mà bằng việc bồi đắp tình yêu, sự hiểu biết và niềm tự hào của mỗi người dân đối với di sản của cha ông.
Văn hóa còn thì dân tộc còn. Bởi vậy, chăm lo cho văn hóa, bảo vệ bản sắc dân tộc, suy cho cùng chính là chăm lo cho tương lai trường tồn của đất nước. Đó là sự nghiệp lâu dài, kiên trì, đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội – và cũng là cách thiết thực nhất để mỗi người góp phần dựng nên một thành trì tinh thần không thế lực nào có thể xâm phạm.
[1]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.3, tr. 458.
[2]Báo Cứu quốc, số ra ngày 25-11-1946, tường thuật Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất khai mạc ngày 24-11-1946 tại Nhà hát Lớn Hà Nội; dẫn lại theo Báo Văn hoá, Bác Hồ với các hội nghị văn hóa, văn nghệ toàn quốc, 28/01/2022, https://baovanhoa.vn/hoc-tap-va-lam-theo-bac/bac-ho-voi-cac-hoi-nghi-van-hoa-van-nghe-toan-quoc-70628.html
[3] “Đề cương Văn hóa Việt Nam” do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương, tháng 2 năm 1943. Đọc tại: Hội Văn học nghệ thuật Tỉnh Đắk Lắk, Toàn văn “Đề cương Văn hóa Việt Nam” năm 1943, https://vhnt.daklak.gov.vn/toan-van-de-cuong-van-hoa-viet-nam-nam-1943-473.html
[4]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. Nghị quyết được ban hành ngày 16-7-1998, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-viii/nghi-quyet-so-03-nqtw-ngay-1671998-hoi-nghi-lan-thu-nam-bchtw-dang-khoa-viii-ve-xay-dung-va-phat-trien-nen-van-hoa-viet-681
[5]Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (thông qua tại Đại hội VII, năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011), https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi/cuong-linh-xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoi-bo-sung-phat-trien-nam-2011-1528
[6]Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xi/nghi-quyet-so-33-nqtw-ngay-962014-hoi-nghi-lan-thu-9-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xi-ve-xay-dung-va-phat-trien-590
[7]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập I, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/book/sach-chinh-tri/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-tap-1-403
[8]Bộ Chính trị: Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ngay-07-01-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam2.html
[9] Tlđd
[10]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, từ ngày 19 đến 23-1-2026), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.


