BÀI HỌC ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Quá trình Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức, tranh thủ và phát huy các yếu tố quốc tế trong Cách mạng tháng Tám là bài học quý giá về đoàn kết quốc tế trong đường lối đối ngoại của Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt từ công cuộc đổi mới đến nay.
1. Đoàn kết quốc tế trong Cách mạng tháng Tám năm 1945
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ là thắng lợi của nhân dân Việt Nam mà đồng thời còn góp phần quan trọng của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Thắng lợi đó được tạo nên bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó có sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và đặc biệt là việc chủ động tranh thủ các yếu tố quốc tế có lợi cho cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc rằng cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Vì vậy, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Người đặc biệt quan tâm xây dựng và phát triển quan hệ với các lực lượng tiến bộ, các dân tộc bị áp bức và phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Tư tưởng đó được thể hiện rõ trong quá trình Đảng và nhân dân Việt Nam chuẩn bị lực lượng, nắm bắt thời cơ và tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.
Đã hơn 80 năm kể từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, những bài học được đúc kết từ Cách mạng tháng Tám, trong đó có bài học về đoàn kết quốc tế, vẫn có ý nghĩa thời sự đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Cùng với sức mạnh đoàn kết dân tộc, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám còn cho thấy tầm quan trọng của việc chủ động nhận diện, khai thác và tranh thủ các yếu tố quốc tế.
Ngay từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Đảng đã theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế và nhận định về những khả năng có thể xuất hiện sau chiến tranh. Tháng 5-1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ VIII nhận định: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước XHCN thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước XHCN, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”[1].
Nhận thức đó cho thấy cách mạng Việt Nam được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với những biến chuyển của cách mạng thế giới. Trên cơ sở nhận thức cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, Đảng nhấn mạnh yêu cầu đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, đồng thời chủ trương ủng hộ Liên Xô và cách mạng Trung Quốc[2]. Đây là cơ sở quan trọng để cách mạng Việt Nam từng bước mở rộng quan hệ với các lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ đối với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Việc thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, ngày 19-5-1941 và thông qua “Chương trình Việt Minh” là bước phát triển quan trọng trong việc xây dựng sức mạnh dân tộc. Đồng thời, Chương trình Việt Minh cũng xác định rõ yêu cầu mở rộng đoàn kết quốc tế, trong đó đề ra chủ trương “hết sức giúp đỡ Ai Lao Độc lập Đồng minh và Cao Miên Độc lập Đồng minh để cùng thành lập Đông Dương Độc lập Đồng minh hay là mặt trận thống nhất dân tộc phản đế toàn Đông Dương” và “Việt Nam sẽ liên hiệp với tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”[3].
Như vậy, đoàn kết quốc tế trong tư duy của Đảng và Hồ Chí Minh trước hết là chủ động xây dựng quan hệ, tạo dựng sự đồng tình và tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi cho cách mạng. Đây là một biểu hiện quan trọng của tư duy đối ngoại độc lập, tự chủ ngay từ trước khi giành được chính quyền.
Trong quá trình đó, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú trọng việc tiếp xúc với các lực lượng quốc tế. Giữa năm 1942, Người sang Trung Quốc tìm cách liên hệ với các lực lượng thuộc phe Đồng minh chống phát xít, nhưng bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ và đến cuối năm 1943 mới được trả tự do tại Liễu Châu[4]. Cuối năm 1944, nhận thấy những khác biệt nhất định giữa Mỹ với Anh và Pháp về vấn đề Đông Dương[5], Hồ Chí Minh[6] trở lại Côn Minh nhằm tìm cách tiếp xúc với Tướng Chennault, Tư lệnh Không quân Mỹ tại Trung Quốc, qua đó tạo cơ sở phối hợp giữa Việt Minh và lực lượng Đồng minh. Những hoạt động này cho thấy tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh trong việc gắn cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và xu thế dân chủ, tiến bộ trên thế giới.
Không dừng lại ở việc tiếp xúc với phía Mỹ, Hồ Chí Minh còn thông qua người Mỹ để tìm cách tiếp xúc với người Pháp, thông báo chủ trương và thiện chí của Việt Minh trong việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề Đông Dương sau chiến tranh, đồng thời nhờ Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) chuyển đề nghị chính thức của Việt Minh tới nhà chức trách Pháp[7]. Đây là những hoạt động đối ngoại có ý nghĩa quan trọng, đặt những nền móng đầu tiên cho tư duy ngoại giao Việt Nam hiện đại: độc lập, chủ động, linh hoạt và biết tranh thủ các lực lượng bên ngoài để phục vụ lợi ích dân tộc.
Nhờ nhận thức đúng xu thế vận động của tình hình quốc tế, sự suy yếu của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa thực dân, Đảng đã chủ động chuẩn bị lực lượng và nắm bắt thời cơ lịch sử. Ngày 14 và 15-8-1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập dân tộc đã tới” và quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước[8]. Việt Minh cũng ban bố 10 chính sách lớn, trong đó về đối ngoại nhấn mạnh chủ trương “Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và ủng hộ của họ”[9].
Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với những điều kiện quốc tế thuận lợi. Ngày 19-8-1945, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội và nhanh chóng lan rộng. Đến ngày 28-8, chính quyền cách mạng về cơ bản được thiết lập trên phạm vi cả nước. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đông đảo nhân dân và đại diện một số lực lượng Đồng minh cùng báo chí quốc tế[10].

Trên phương diện đối ngoại, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ tuyên bố quyền độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn khẳng định những đóng góp của Việt Nam vào cuộc đấu tranh chống phát xít, qua đó tạo cơ sở chính trị và pháp lý để tranh thủ sự đồng tình của cộng đồng quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”[11].
Tuyên ngôn Độc lập vì thế vừa là lời tuyên bố về quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, vừa là thông điệp đối ngoại gửi tới cộng đồng quốc tế. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đưa Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền và có tư cách pháp lý để thiết lập quan hệ với các quốc gia khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh sau đó khẳng định: “Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở thành một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới”[12].
Có thể thấy, nghệ thuật nắm bắt thời cơ trong Cách mạng tháng Tám không chỉ thể hiện ở khả năng nhận diện đúng thời điểm để phát động Tổng khởi nghĩa mà còn ở việc chủ động khai thác những biến chuyển của tình hình quốc tế. Sự thất bại của phát xít Đức, việc Nhật Bản đầu hàng Đồng minh và khoảng trống quyền lực xuất hiện ở Đông Dương đã tạo điều kiện đặc biệt thuận lợi cho cách mạng. Điều quan trọng là Đảng và Hồ Chí Minh đã nhận diện được thời cơ, chuẩn bị lực lượng và hành động kịp thời.
Trong tiến trình Cách mạng tháng Tám, Việt Nam chưa nhận được sự hỗ trợ vật chất quy mô lớn từ bên ngoài, nhưng đã từng bước tạo dựng được sự đồng tình của các lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới. Đồng thời, Việt Nam thể hiện lập trường nhất quán ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức và phong trào hòa bình, dân chủ, chống phát xít. Ngay cả đối với nước Pháp, trong hoàn cảnh Pháp chuẩn bị quay trở lại xâm lược, “đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo”[13]. Đó chính là sự kết hợp giữa bảo vệ lợi ích dân tộc với tinh thần quốc tế trong sáng.
Từ thực tiễn Cách mạng tháng Tám có thể rút ra một nhận thức quan trọng: đoàn kết quốc tế trước hết đòi hỏi phải hiểu đúng tình hình thế giới, nhận diện chính xác xu hướng vận động của các lực lượng quốc tế và chủ động tranh thủ những điều kiện có lợi cho sự nghiệp dân tộc. Đoàn kết quốc tế không tách rời độc lập, tự chủ mà phải được xây dựng trên nền tảng độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia, dân tộc.
2. Từ bài học Cách mạng tháng Tám đến đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bài học đoàn kết quốc tế từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 tiếp tục được Đảng và Nhà nước Việt Nam kế thừa, phát triển trong các cuộc kháng chiến và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chính phủ đã chủ động thể hiện mong muốn thiết lập quan hệ với cộng đồng quốc tế. Việt Nam nhiều lần bày tỏ nguyện vọng gia nhập Liên hợp quốc, tổ chức được thành lập ngày 26-6-1945[14].
Trong thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc tháng 2-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực” và “chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”[15].
Chủ trương đối ngoại rộng mở cũng được thể hiện qua chuyến thăm Pháp năm 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm tranh thủ dư luận Pháp và quốc tế đối với nguyện vọng độc lập của Việt Nam[16]. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng thời chủ động gửi thư tới nhiều nước lớn như Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Pháp để đề nghị thiết lập quan hệ ngoại giao.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chủ trương tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới tiếp tục được triển khai. Đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trung Quốc và Liên Xô[17], mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ quốc tế của Việt Nam. Từ năm 1950, Việt Nam từng bước thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phong trào ủng hộ Việt Nam diễn ra ở nhiều quốc gia, trong đó có Pháp và các nước châu Phi thuộc Pháp. Nhân dân và công nhân tại nhiều cảng ở Bắc Phi như Angiê, Ô-ran, Bon... đã nhiều lần tẩy chay, không vận chuyển hàng hóa cho các tàu Pháp sang chiến trường Việt Nam[18]. Những phong trào phản đối việc đưa binh lính thuộc địa sang chiến đấu tại Đông Dương cũng xuất hiện ở nhiều nơi. Sự ủng hộ đó góp phần hình thành một mặt trận quốc tế rộng lớn, kết hợp sức mạnh của nhân dân Việt Nam với sự đồng tình của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Trong kháng chiến chống Mỹ, bài học đoàn kết quốc tế tiếp tục được phát huy với quy mô rộng lớn hơn. Bên cạnh sự giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ và nhân dân nhiều nước tư bản như Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Italia... Các phong trào “Tuần lễ đoàn kết với Việt Nam chống Mỹ”, quyên góp “Vì Việt Nam” được tổ chức tại nhiều quốc gia, tạo nên một mặt trận quốc tế rộng lớn ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam.
Trước năm 1975, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 69 nước. Thực tiễn đó cho thấy, đoàn kết quốc tế không chỉ góp phần tranh thủ sự ủng hộ về chính trị, tinh thần và vật chất mà còn tạo dựng một mạng lưới quan hệ quốc tế quan trọng phục vụ sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.
Sau năm 1975, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động, Việt Nam tiếp tục từng bước điều chỉnh và mở rộng quan hệ đối ngoại. Đặc biệt, Đại hội VI của Đảng năm 1986 xác định chủ trương mở rộng quan hệ quốc tế, “ủng hộ chính sách cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau,… sẵn sàng mở rộng quan hệ với tất cả các nước”[19]. Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy đối ngoại chủ yếu phục vụ chiến tranh và bảo vệ Tổ quốc sang tư duy đối ngoại phục vụ đồng thời các mục tiêu hòa bình, an ninh, phát triển và nâng cao vị thế quốc gia.
Việc Việt Nam từng bước tháo gỡ những vấn đề tồn đọng trong quan hệ quốc tế, trong đó có vấn đề Campuchia, đã tạo điều kiện để phá thế bao vây, cấm vận và mở rộng quan hệ đối ngoại. Sau khi Việt Nam cơ bản hoàn thành việc rút quân khỏi Campuchia[20], Hiệp định Paris về một giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia được ký kết ngày 23-10-1991[21]. Đây là một bước tiến quan trọng, tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam bình thường hóa và mở rộng quan hệ với các nước. Việt Nam sau đó nhanh chóng bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ năm 1995 và trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28-7-1995.
Từ bước chuyển của thời kỳ Đổi mới, bài học đoàn kết quốc tế ngày càng được phát triển thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nếu trong Cách mạng tháng Tám và các cuộc kháng chiến, đoàn kết quốc tế chủ yếu nhằm tranh thủ sự ủng hộ đối với sự nghiệp đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, thì từ Đổi mới, đoàn kết quốc tế ngày càng gắn chặt với hợp tác, hội nhập và phát triển. Việt Nam chuyển từ tư duy “thêm bạn, bớt thù” sang xây dựng quan hệ rộng mở với các quốc gia, các tổ chức và các cơ chế hợp tác quốc tế, đồng thời kiên định bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Trong quá trình đó, độc lập, tự chủ là nguyên tắc nền tảng, còn chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là phương thức quan trọng để phát huy sức mạnh dân tộc trong điều kiện mới. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, số lượng quan hệ ngoại giao chỉ là biểu hiện về mặt hình thức. Nội dung cốt lõi của đoàn kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay là nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác; xây dựng các quan hệ bình đẳng, cùng có lợi; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; đồng thời chủ động tham gia giải quyết những vấn đề chung của khu vực và thế giới.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, Việt Nam chủ trương duy trì môi trường hòa bình, không lựa chọn bên này để chống bên kia, đồng thời tích cực đóng góp vào các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu. Chính sách quốc phòng “Bốn không” thể hiện rõ tinh thần đó: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước khác; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Những nguyên tắc này phù hợp với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam, đồng thời thể hiện sự tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Đó cũng là sự kế thừa trực tiếp bài học từ Cách mạng tháng Tám: mở rộng quan hệ quốc tế nhưng không đánh đổi độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Một biểu hiện nổi bật của quá trình này là việc Việt Nam từng bước nâng cấp quan hệ với nhiều đối tác quan trọng. Đến năm 2025, Việt Nam đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 13 nước[22]. Điều đó phản ánh sự phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu của mạng lưới quan hệ đối ngoại, đồng thời cho thấy vị thế ngày càng được nâng cao của Việt Nam trong cấu trúc quan hệ quốc tế. Mục tiêu của đường lối này được thể hiện rõ trong chủ trương: “nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế”[23].
Đoàn kết quốc tế trong giai đoạn hiện nay còn được thể hiện rõ nét trên phương diện ngoại giao đa phương. Việt Nam từng bước tham gia nhiều tổ chức và cơ chế quốc tế, từ Phong trào Không liên kết, Liên hợp quốc, ASEAN đến các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu. Sau Đổi mới, Việt Nam tham gia ASEAN, Hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và nhiều cơ chế hợp tác khác[24]. Trong đó, việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 có ý nghĩa đặc biệt. Đây không chỉ là bước ngoặt trong tiến trình hội nhập khu vực mà còn góp phần chuyển Đông Nam Á từ một khu vực từng bị chia rẽ và đối đầu thành một cộng đồng ngày càng gắn kết, hợp tác và hòa bình. Việt Nam đã tích cực tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN với tinh thần “chủ động, tích cực và có trách nhiệm”[25].
Trên phạm vi toàn cầu, Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò chủ động và trách nhiệm trong các hoạt động của Liên hợp quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác. Việt Nam từng hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021[26].
Từ năm 2014, Việt Nam cũng tích cực tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, qua đó thể hiện trách nhiệm đối với hòa bình và an ninh quốc tế[27]. Những kết quả đó cho thấy sự phát triển rõ nét của bài học đoàn kết quốc tế trong điều kiện mới: Việt Nam không chỉ tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế mà ngày càng trở thành một chủ thể tích cực tham gia, đóng góp vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới.
Như vậy, từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, bài học đoàn kết quốc tế đã được kế thừa và phát triển phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Từ việc chủ động mở rộng quan hệ với thế giới ngay sau khi giành được độc lập, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế trong các cuộc kháng chiến, đến phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại trong thời kỳ Đổi mới và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế hiện nay, tư duy đối ngoại của Việt Nam ngày càng hoàn thiện.
Điểm nhất quán xuyên suốt là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động mở rộng hợp tác và hội nhập. Đường lối đó nhất quán với chủ trương: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”[28].
3. Giá trị và ý nghĩa của bài học đoàn kết quốc tế
Từ thực tiễn Cách mạng tháng Tám năm 1945 và quá trình phát triển của nền ngoại giao Việt Nam có thể khẳng định rằng đoàn kết quốc tế là một bộ phận quan trọng trong tư duy và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Bài học đó không phải là sự phụ thuộc vào bên ngoài, càng không phải là sự lựa chọn một lực lượng quốc tế để dựa vào, mà là sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên nền tảng độc lập, tự chủ.
Trong Cách mạng tháng Tám, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết đặt cách mạng Việt Nam trong dòng chảy chung của cách mạng thế giới; chủ động theo dõi tình hình quốc tế, nhận diện những mâu thuẫn và xu thế vận động của các lực lượng quốc tế, tranh thủ những điều kiện thuận lợi và đồng thời chuẩn bị đầy đủ lực lượng bên trong. Chính sự kết hợp giữa nội lực dân tộc và ngoại lực quốc tế đã góp phần tạo nên thắng lợi nhanh chóng của Tổng khởi nghĩa.
Bài học đó tiếp tục được phát triển qua hai cuộc kháng chiến và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, từ Đổi mới đến nay, đoàn kết quốc tế được nâng lên thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Trong điều kiện hiện nay, đoàn kết quốc tế cần được hiểu rộng hơn: không chỉ là tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia, mà còn là chủ động tham gia, đóng góp và cùng giải quyết những vấn đề chung của nhân loại. Việt Nam vừa kiên định bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, vừa tích cực đóng góp vào hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.
Có thể khái quát giá trị của bài học đoàn kết quốc tế từ Cách mạng tháng Tám ở một số phương diện cơ bản: kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế; kết hợp độc lập, tự chủ với mở rộng quan hệ quốc tế; kết hợp tranh thủ sự ủng hộ của bên ngoài với phát huy tối đa nội lực; kết hợp lợi ích quốc gia, dân tộc với trách nhiệm quốc tế.
Trong bối cảnh thế giới đang có những biến chuyển nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, bài học này càng có ý nghĩa. Việt Nam cần tiếp tục giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, linh hoạt mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực.
Thực tiễn cho thấy, tăng cường quan hệ chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa và hợp tác quốc tế đã tạo thêm nguồn lực để Việt Nam bảo vệ lợi ích quốc gia, duy trì môi trường hòa bình, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế quốc gia. Đây chính là sự phát triển sáng tạo bài học đoàn kết quốc tế từ Cách mạng tháng Tám trong điều kiện mới.
4. Kết luận
Hơn 80 năm sau Cách mạng tháng Tám, bài học đoàn kết quốc tế vẫn giữ nguyên giá trị, nhưng đã được bổ sung và phát triển phù hợp với những điều kiện lịch sử mới. Từ việc chủ động tranh thủ các lực lượng chống phát xít và các lực lượng tiến bộ trên thế giới trong năm 1945, Việt Nam từng bước hình thành và hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển, đa phương hóa và đa dạng hóa.
Những thành tựu đối ngoại đạt được trong nhiều thập niên qua cho thấy Việt Nam đã vận dụng ngày càng sáng tạo bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đoàn kết quốc tế vì thế không chỉ góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong giai đoạn hiện nay, phát huy bài học đoàn kết quốc tế từ Cách mạng tháng Tám cần tiếp tục được đặt trên nền tảng độc lập, tự chủ, tôn trọng luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi; đồng thời chủ động, tích cực tham gia giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới. Đó là cách thiết thực để Việt Nam vừa bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, dân tộc, vừa đóng góp vào mục tiêu chung về hòa bình, hợp tác, phát triển và tiến bộ xã hội, từng bước hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và có vị thế ngày càng cao trong cộng đồng quốc tế.
Chú thích:
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2000). Văn kiện Đảng toàn tập, tập VII. Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.100.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2000). Văn kiện Đảng toàn tập, tập VI. Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.151.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2000). Văn kiện Đảng toàn tập, tập VII, Sđd, tr.149, 461.
[4] Viện Sử học (2014). Lịch sử Việt Nam, Tập IX, Từ năm 1930 đến năm 1945. Nxb. KHXH, Hà Nội, tr.644.
[5] Về vấn đề Đông Dương, theo David Marr, ngay từ đầu Tổng thống Mỹ Roosevelt đã có ý đồ “ngăn cản không cho Pháp phục hồi lại Đông Dương” và “mong muốn một sự ủy trị của Liên hợp quốc cho đến khi những người dân có khả năng tự cai quản lấy mình”. David Marr (1995). Viet Nam 1945. The Quets for power, University of California Press, Berkley Los Angeles London, p.226.
[6] Tên gọi Hồ Chí Minh bắt đầu được sử dụng từ ngày 13 tháng 8 năm 1942, khi Người sang Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của Việt Nam độc lập đồng Minh (Việt Minh) và Phân bộ Quốc tế phản xâm lược của Việt Nam. Theo: Dương Trung Quốc (2000). Việt Nam- Những sự kiện lịch sử (1919-1945). Nxb. Giáo dục, Hà Nôi, tr.356.
[7] Dẫn theo: Vũ Dương Ninh (2014). Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940-2010). Hà Nội, tr.63-64; “Một nhân chứng Mỹ từng cộng tác với VC”. Tạp chí Xưa và Nay, số 461, tháng 7-2015, tr.6.
[8] Viện Sử học (2014). Lịch sử Việt Nam, Tập IX, Từ năm 1930 đến năm 1945. Sđd, tr.690.
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, tập VII. Sđd, tr.560.
[10] Viện Sử học (2014), Lịch sử Việt Nam, Tập IX, Từ năm 1930 đến năm 1945. Sđd, tr.719.
[11] Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945. https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/83A76A5-hd-toan-van-ban-tuyen-ngon-doc-lap-nam-1945.html
[12] Hồ Chí Minh 1960. Tuyển tập, Nxb Sự Thật, Hà Nội, tr.357.
[13] Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945. Tlđd.
[14] Ngày 26/6/1945, tại San Francisco (Hoa Kỳ) 50 nước đã tham gia ký kết Hiến chương Liên hợp quốc, đánh dấu sự ra đời của tổ chức này. Viện Sử học (2001). Thế giới: Những sự kiện lịch sử thế kỷ XX (1901-1945). Sđd, tr.317-318.
[15] Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, Tập IV, Nxb.CTQG, Hà Nội, tr.14-15.
[16] Viện Sử học (2002). Việt Nam: Những sự kiện lịch sử (1956-1975). Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.30,33.
[17] Viện Sử học (2002). Việt Nam: Những sự kiện lịch sử (1956-1975). Sđd, tr.71.
[18] Võ Kim Cương (2004). Việt Nam và châu Phi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Nxb. CTQG, Hà Nội, tr.190-191.
[19] Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VI (1987). Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 105.
[20] Viện Sử học (2001). Thế giới: Những sự kiện lịch sử thế kỷ XX (1946-2000). Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.277.
[21] Viện Sử học (2001). Thế giới: Những sự kiện lịch sử thế kỷ XX (1946-2000). Sđd, tr.317-318.
[22] Đó là các nước: Trung Quốc (05/2008), Nga (07/2012), Ấn Độ (09/2016), Hàn Quốc (12/2022), Hoa Kỳ (09/2023), Nhật Bản (11/2023), Australia (03/2024), Pháp (10/2024), Malaysia (11/2024), New Zealand (2/2025), Indonesia (10/3/2025), Cộng hòa Singapore (12/3/2025) và Thái Lan (16/5/2025)
[23] Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ XI (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), https://cpv.ctu.edu.vn/vn-bn-quy-nh/36-trung-ng/135-vn-kin-i-hi-i-biu-toan-quc-ln-th-xi-ca-ng-cng-sn-vit-nam. Truy cập 10:00 ngày 12/3/2025.
[24] Việt Nam đã tham gia hàng loạt các tổ chức quốc tế và khu vực như: Ủy hội sông Mê Công quốc tế (MRC) - năm 1995; Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) - 15/12/1995; Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996; Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương ̣(APEC) - 11/1998; Hợp tác Mê Kông - Sông Hằng (MGC) - 11/ 2000; Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) - 12/2005; Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) - 2007; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) - 3/2018; Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) - 2022…
[25] Việt Nam vươn lên trở thành một trong những thành viên năng động và có ảnh hưởng nhất ASEAN. https://baochinhphu.vn/viet-nam-vuon-len-tro-thanh-thanh-vien-nang-dong-va-co-anh-huong-nhat-asean-102250225105559305.htm truy cập 25/02/2025 11:08
[26] Vào ngày 16-10-2007, Việt Nam đã được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009; tiếp đến, ngày 7-6-2019, tại New York (Hoa Kỳ), Việt Nam lần thứ 2 được bầu vào vị trí ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với 192/193 phiếu tán thành. Dẫn theo: Việt Nam chính thức đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc từ ngày 1-1-2020. https://baotintuc.vn/chinh-tri/viet-nam-chinh-thuc-dam-nhiem-vai-tro-uy-vien-khong-thuong-truc-hoi-dong-bao-an-lien-hop-quoc-tu-ngay-112020-20190608002808146.htm. Truy cập 17:22 ngày 3/3/2025.
[27] Từ năm 2014 đến nay, các lực lượng Quân đội và Công an Nhân dân Việt Nam đã cử trên 800 lượt sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp triển khai theo hình thức cá nhân và đơn vị, trong đó có 5 thê đội của Bệnh viện dã chiến cấp 2 triển khai tại phái bộ Nam Sudan, 2 thê đội của Đội Công binh triển khai tại phái bộ UNISFA, khu vực Abyei và 114 lượt sỹ quan triển khai theo hình thức cá nhân. Dẫn theo: 10 năm Việt Nam tham gia chính thức hoạt động giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc, https://www.tuyengiao.vn/10-nam-viet-nam-tham-gia-chinh-thuc-hoat-dong-giu-gin-hoa-binh-lien-hop-quoc-154463, Truy cập: 23:21 ngày 3/3/2025.
[28] Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI từ ngày 12 đến 19-1-2011. https://cpv.ctu.edu.vn/vn-bn-quy-nh/36-trung-ng/135-vn-kin-i-hi-i-biu-toan-quc-ln-th-xi-ca-ng-cng-sn-vit-nam.


